Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán 0
May 23, 2014
Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một
thẩm phán 0
Bản
dịch của Vũ Quốc Ngữ
Nguồn: Amnesty International
Mọi người bị bắt hoặc bị giam giữ liên quan đến
cáo buộc hình sự phải được đưa ngay đến trước một thẩm phán hoặc một quan chức
tư pháp, để quyền của họ được bảo vệ. Thẩm phán có nhiệm vụ xác định việc bắt
giữ và giam giữ có đúng luật không, và quyết định trả tự do cho người bị bắt
giữ hoặc giữ lại để chờ ngày ra tòa. Nhà nước chịu trách nhiệm chứng minh rằng
việc bắt giữ hoặc giam giữ là đúng luật và việc giam giữ tiếp theo đó là cần
thiết và tương xứng.
5.1
Quyền được đưa ngay đến trước một thẩm phán
5.1.1
Những quan chức được phép thực thi quyền tư pháp
5.1.2
Thế nào là “đưa ngay ” đến trước một phẩm phán?
5.2
Quyền trong buổi điều trần
5.3
Giả định tại ngoại trước xét xử
5.4
Những lý do để giam giữ chờ xét xử
5.5
Những biện pháp thay thế giam giữ trong thời gian trước phiên tòa
__________
5.1 Quyền được đưa ngay đến trước một thẩm phán
Tất
cả các hình thức giam giữ hoặc phạt tù phải tuân thủ theo, hoặc thuộc đối tượng
kiểm soát hữu hiệu của cơ quan tư pháp.
Giám sát tư pháp việc
giam giữ nhằm bảo vệ quyền tự do, và trong vụ án hình sự, với giả định vô tội.
Nó cũng nhằm mục đích ngăn chặn vi phạm nhân quyền bao gồm tra tấn hoặc ngược
đãi, giam giữ tùy tiện và thủ tiêu. Nó đảm bảo rằng tình trạng của người bị
giam giữ không phụ thuộc vào lòng thương xót của chính quyền giam giữ họ.
Tiêu
chuẩn quốc tế yêu cầu bất cứ ai bị bắt hoặc bị giam giữ được đưa kịp thời tới
trước một thẩm phán hay viên chức khác có thẩm quyền pháp luật để thực hiện
quyền tư pháp.
Mục đích của việc đưa
các tù nhân ngay lập tức trước một thẩm phán bao gồm:
-
Để đánh giá tính hợp pháp của việc bắt giữ , tạm giam, và để yêu cầu trả tự
do hoặc không thì:
-
Để bảo vệ thân thể của người bị giam giữ,
-
Ngăn chặn sự vi phạm các quyền của người bị giam giữ,
-
Nếu sự bắt giữ hoặc giam giữ ban đầu là hợp pháp, thì sẽ đánh giá :
-
Liệu có thể cho tại ngoại và điều kiện để thực hiện việc đó,
-
Trong vụ án hình sự, liệu việc giam giữ có cần thiết và tương xứng.
Một
phiên điều trần với một mục đích khác không đáp ứng quyền này. Ví dụ, nếu mục
đích của một buổi điều trần là buộc tù nhân khai mà không xem xét tính hợp
pháp của việc giam giữ, Tòa án Liên Mỹ cho rằng phiên điều trần này không
đáp ứng các yêu cầu của Điều 7 của Công ước châu Mỹ.
Tòa
án châu Âu yêu cầu phải làm rõ ngay tính hợp pháp của việc bắt/giam giữ
và khả năng cho tại ngoại hay tạm giam chờ xét xử. Tòa cho rằng tốt nhất
là hai vấn đề này được xem xét ngay lập tức bởi một quan chức tư
pháp có thẩm quyền quyết định cả hai việc. Tuy nhiên, Tòa cũng cho
rằng không có sự vi phạm luật pháp nếu hai vấn đề trên được xem xét
bởi hai tòa án riêng biệt trong khung thời gian yêu cầu.
Nhà
nước có nghĩa vụ để đảm bảo rằng những người bị bắt giam được đưa ngay ra trước
một thẩm phán, không phụ thuộc vào việc người bị giam giữ có thách
thức việc giam giữ hay không.
Có
nhiều quan ngại khi trong thực tế nhà chức trách từ chối việc xem
xét tính hợp pháp của việc bắt giữ những người bị tình nghi liên
quan đến khủng bố và buôn bán ma túy. Tòa án châu Âu cho rằng sự đe
dọa nghiêm trọng của khủng bố và buôn bán ma túy cũng không cho phép
nhà chức trách tùy tiện bắt giữ mà không tuân theo luật.
Việc
tôn trọng quyền này rất quan trọng trong những quốc gia mà lực lượng
quân đội kiểm soát an ninh.
Với
những người bị bắt vì liên quan đến cáo buộc hình sự, việc điều
trần ban đầu trước một thẩm phán hoặc quan chức tư pháp nên đưa đến
việc chấm dứt giam giữ ở đồn cảnh sát. Nếu không được tại ngoại,
người bị cáo buộc nên được chuyển đến nơi tạm giam không thuộc phạm
vi của cơ quan điều tra. (Xem Chương 10).
Điều 9 của ICCPR
“Mọi người bị bắt hay bị giam giữ với
cáo buộc hình sự nên được đưa ngay tới trước một thẩm phán hoặc một
quan chức có thẩm quyền, là người quyết định trả tự do hay truy tố
trong một thời hạn nhất định.
5.1.1 Những quan chức được thực hiện quyền
tư pháp
Nếu
một người bị giam giữ được đưa tới trước một quan chức tư pháp thay
vì trước một thẩm phán, thì vị quan chức này phải được thực hiện
quyền tư pháp một cách khách quan, độc lập với chính quyền và các
đảng phái. (Xem Chương 12 phần 4- Quyền được xét xử bởi một tòa án
độc lập).
Quan
chức tư pháp này phải có quyền để xem xét tính hợp pháp của việc bắt giữ,
tạm giam
và cơ sở của những
nghi ngờ về người bị bắt trong một vụ án hình sự, và có quyền trả tự
do cho người bị bắt nếu xét thấy việc bắt giữ hoặc giam giữ là
không đúng luật.
Các
công tố viên thường không hội đủ điều kiện là quan chức tư pháp cho mục đích
này. Họ đã nhiều lần hành động không có tính khách quan và vô tư trong việc
xác định tính hợp pháp của việc giam giữ.
Tòa
án châu Âu đã thấy nhiều công tố viên, điều tra viên, sĩ quan quân đội và thẩm
phán điều tra không thực hiện quyền tư pháp một cách độc lập cho mục đích
này, bởi vì họ đã được giao nhiệm vụ để can thiệp vào quá trình tố tụng như
làn đại diện của chính quyền.
Công
ước châu Âu không cho là có sự vi phạm vào Điều 5 của Công nước khi
một thẩm phán tiến hành điều trần ban đầu trong vòng 36 giờ sau khi
bắt giữ có quyền trả tự do sau khi phát hiện việc bắt giữ không hợp
pháp, nhưng không cho tại ngoại, vì phiên xử bảo lãnh được tiến hành
trong ngày hôm sau.
5.1.2 Thế nào là “đưa ngay lập tức trước thẩm
phán” ?
Tiêu
chuẩn quốc tế yêu cầu các cá nhân được đưa ra trước một thẩm phán ngay sau khi
bị bắt hoặc bị giam giữ. Trong khi “tính kịp thời” được xác định theo hoàn
cảnh cụ thể của từng trường hợp, Ủy ban Nhân quyền yêu cầu sự chậm trễ
không được vượt quá vài ngày.
Trong
nhiều trường hợp, sự chậm trễ hơn 48 giờ sau khi bị bắt hoặc bị giam giữ được
xem là quá mức. ( Nhưng xem Chương 27 phần 6 mục 1 về trẻ em).
Ủy
ban Nhân quyền đã bày tỏ quan ngại về pháp luật của một số quốc gia cho
phép cảnh sát giam giữ trong 72 giờ hoặc nhiều hơn mà không cho gặp quan
chức tư pháp.
Trong
một đất nước mà sự tra tấn tù nhân có tính hệ thống, Ủy ban chống tra tấn đề
nghị pháp luật nên được sửa đổi theo hướng yêu cầu người bị giam giữ được đưa
ra trước một tòa án trong vòng 24 giờ, và yêu cầu thẩm phán luôn sẵn sàng
cho các vụ việc này.
Các
vấn đề ảnh hưởng đến các tổ chức của hệ thống tư pháp hình sự không bao giờ là
sự bào chữa cho việc không tuân thủ các yêu cầu kịp thời.
Tuy nhiên, yêu cầu của
tính kịp thời cho phép có sự linh hoạt trong các trường hợp cụ thể. Sự
linh hoạt cần có trong những trường hợp ví dụ như việc bắt giữ, giam
giữ được tiến hành trên biển.
Trong
khi một số linh hoạt đã được áp dụng do một số yếu tố như sự phức tạp
trong điều tra, ví dụ như trong các vụ liên quan đến khủng bổ, nhiều
tổ chức chỉ trích sự chậm trễ trong những trường hợp đó. Tòa án Châu
Âu năm 1988 cho rằng việc đưa các phần tử bị cáo buộc thực hiện hành
động khủng bố đến trước thẩm phán 4 ngày 6 tiếng sau bắt giữ là
quá dài. Điều tra viên đặc biệt về quyền con người và chống khủng
bố tuyên bố rằng trong vòng 48 tiếng, mọi người bị giam giữ cần phải
được tiếp cận điều trần tư pháp về tính hợp pháp của việc giam
giữ.
Ủy
ban Nhân quyền đã chỉ ra rằng quyền được đưa kịp thời trước một thẩm phán không
nên được giới hạn trong thời gian có tình trạng khẩn cấp. Toà án châu Âu
và Liên Mỹ chỉ ra rằng sự chậm trễ trong việc đưa người bị bắt đến
trước một tòa án có thể được cho phép trong tình trạng khẩn cấp, thì sự chậm
trễ không được kéo dài. Tòa án châu Âu đòi hỏi có các biện pháp bảo vệ chống
lại lạm dụng trong giai đoạn này, chẳng hạn như việc tiếp xúc giữa người
bị bắt giam và luật sư, bác sĩ và thân nhân. (Xem Chương 31 – Tnh trạng
khẩn cấp).
5.2 Quyền trong quá trình xét xử và phạm
vi đánh giá
Trách
nhiệm chứng minh rằng việc bắt giữ, tạm giam ban đầu là hợp pháp và tiếp tục
giam giữ, nếu được đặt ra, là cần thiết và tương xứng, thuộc về nhà nước –
hoặc công tố viên hoặc thẩm phán điều tra trong một số hệ thống pháp luật
dân sự. Nó phải thiết lập vì việc tại ngoại có thể tạo ra các nguy cơ
mà không thể khắc phục.
Các
cá nhân có các quyền sau đây trong phiên điều trần:
- Được đưa (về thể chất)
trước quan chức tư pháp
-
Được hỗ trợ tư pháp, bao gồm hỗ trợ tư vấn pháp lý miễn phí (xem lại
Chương 3)
-
Tiếp cận với các tài liệu cần thiết
-
Được nhận dịch vụ phiên dịch miễn phí nếu không thể nói và hiểu
ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa.
-
Được lắng nghe về tất cả các vấn đề liên quan
-
Kháng cáo
-
Được hỗ trợ từ đại diện lãnh sự hoặc trợ giúp thích hợp khác nếu là
người nước ngoài (xem Chương 2 phần 5)
-
Được thông báo cho gia đình biết ngày và địa điểm xét xử (trừ khi điều này sẽ
dẫn đến nguy cơ nghiêm trọng đối với tòa án hoặc an ninh quốc gia).
Nếu
việc giam giữ được tiếp tục, người bị giam giữ có thể thách thức
tính hợp pháp của việc giam giữ, được rà soát định kỳ thường xuyên của
sự cần thiết phải tiếp tục bị giam giữ, và được xét xử trong một thời gian hợp
lý. (xem Chương 6 và 7).
5.3 Giả định tại ngoại trước phiên tòa
Phù
hợp với các quyền tự do và suy đoán vô tội (xem Chương 15), có một giả định
rằng người bị cáo buộc vi phạm tội hình sự sẽ không bị giam giữ trong khi
chờ xét xử.
Một
số tiêu chuẩn quốc tế cho rằng người bị cáo buộc vi phạm hình sự không nên bị
giam giữ trong khi chờ xét xử.
Tuy
nhiên, các tiêu chuẩn bao gồm giả định tại ngoại, nhận ra một cách rõ ràng
rằng:
-
Sự tại ngoại của một người cần phải được đảm bảo người đó phải
có mặt tại phiên tòa, bằng hình thức đóng tiền bảo lãnh hoặc các
yêu cầu khác.
-
Bị cáo có thể bị giam giữ chờ xét xử, nếu tòa xét thấy là cần thiết và
tương xứng.
Nhà nước chịu trách nhiệm cân nhắc việc tước đoạt tự do
của người bị cáo buộc trước phiên tòa. Việc giam giữ được thực hiện
nếu việc tại ngoại trước phiên tòa có thể gây nguy cơ đánh nhau, gây
hại cho người khác hoặc gây ảnh hưởng đến các bằng chứng hoặc điều
tra mà không thể khắc phục. (Xem Chương 6- Quyền được thách thức tính
hợp pháp của việc giam giữ, và Chương 7- Quyền được xét xử trong một
thời gian nhất định hoặc được trả tự do).
5.4 Những lý do để
giam giữ trong khi chờ xét xử
Để
biện minh cho việc giam giữ trong khi chờ xét xử, phải có:
-
Sự nghi ngờ hợp lý rằng cá nhân có phạm một tội đáng bị phạt tù, và
-
Lợi ích công cộng, bất chấp sự suy đoán vô tội, cần thiết hơn quyền tự do
cá nhân, và
-
Có lý do tin cậy để tin rằng, nếu được tại ngoại, cá nhân có thể:
+
Bỏ trốn,
+
Phạm tội nghiêm trọng,
+
Can thiệp vào việc điều tra hoặc sự công minh của công lý,
+
Là mối đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng, và
+
Không có khả năng có các biện pháp thay thế để giải quyết các vấn đề
trên.
Những lý do cho phép
tiến hành tạm giam cần được diễn giải chính xác trong luật.
Khi
đánh giá rủi ro trong trường hợp cụ thể, có thể xem xét tính chất và mức độ
nghiêm trọng của cáo buộc, mặc dù điều này sẽ không đủ để biện minh cho giam
giữ. Ngoài ra, cần phải cân nhắc đến hoàn cảnh của từng trường hợp và hoàn
cảnh cá nhân của bị cáo, bao gồm tuổi tác, sức khỏe, tính cách và lý
lịch cũng như vị trí trong xã hội, bao gồm cả mối quan hệ cộng đồng. Thực
tế là một người mang quốc tịch nước ngoài không phải là lý do hợp lý để kết
luận rằng có một nguy cơ chạy trốn, cũng như một người không có nơi cư trú
cố định. Việc cân nhắc nên được chú ý trong trường hợp bị cáo đang
chăm sóc trẻ sơ sinh.
Giam giữ trẻ em phải
được xem là một biện pháp cuối cùng (xem Chương 27).
Việc giam giữ chờ xét
xử là một biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn ngừa tác hại hoặc gây ảnh hưởng đến
công lý, chứ không phải là một sự trừng phạt. Việc giam giữ không phục vụ
cho các mục đích không đúng đắn hoặc sự lạm dụng quyền lực, và
không được kéo dài lâu hơn là cần thiết. Phải luôn có sự kiểm tra tính hợp
pháp và sự cần thiết tiếp tục tạm giam trong mỗi trường hợp. Nguyên tắc này
bị vi phạm bởi pháp luật mà loại bỏ kiểm soát tư pháp, ví dụ bằng cách cấm bảo
lãnh cho những nhóm người, chẳng hạn như người phạm tội lặp lại, hoặc pháp luật
quy định giam giữ bắt buộc trước khi xét xử đối với bất kỳ hành vi phạm tội
nào.
Quyết định tạm giữ không
nên chỉ dựa vào độ dài của các bản án mà người bị cáo buộc có thể
phải nhận.
Để bảo vệ chống lại phân biệt đối xử trên cơ sở kinh tế, trong
những trường hợp có thể đóng tiền bảo lãnh được tại ngoại, nguồn lực tài
chính của cá nhân nên được xem xét trong việc xác định số tiền phải đóng
bảo lãnh. (Xem Chương 11 về quyền bình đẳng).
Trong trường hợp tội
phạm bạo lực, bao gồm cả bạo lực gia đình, các cơ quan chức năng phải đánh
giá rủi ro mà bị cáo có thể mang lại. Sự thất bại trong việc bảo vệ
nạn nhân của bạo lực gây ra bởi mối nguy hiểm biết trước vi phạm các quyền
của nạn nhân. Trong trường hợp này, một loạt các biện pháp tương xứng với rủi
ro cần được xem xét. (Xem Chương 22 phần 4- Quyền của nạn nhân và nhân
chứng).
5.4.1 Các giải pháp
thay thế cho tạm giam trước phiên tòa
Cho
rằng việc giam giữ chờ xét xử là ngoại lệ, chuẩn mực quốc tế đưa ra các biện
pháp thay thế ít hạn chế hơn. Những biện pháp này nên được xem xét
nếu tòa án có những bước cần thiết để bảo đảm sự có mặt của bị
cáo trong phiên tòa. Những biện pháp có thể là bảo lãnh tiền hoặc
bảo lãnh bởi một cá nhân khác, cấm rời khỏi đất nước, giám sát
(kể cả giám sát bằng chip), quản thúc tại gia và các hình thức cấm
khác. Các biện pháp này phải được quy định rõ ràng trong luật.
Quyết
định thiết lập số tiền bảo lãnh hoặc lựa chọn thay thế khác cho việc giam giữ
nên dựa trên đánh giá nguy cơ và hoàn cảnh của bị cáo trong mỗi
trường hợp cụ thể. (xem phần 5 mục 4 ở trên).
Các
biện pháp thay thế cho giam giữ nên được lựa chọn trong các trường
hợp mà bị cáo là người đơn độc hoặc đang chăm sóc trẻ em, hoặc là
phụ nữ đang mang thai hoặc đang có con trong thời gian nuôi con bằng sữa
mẹ.
Hết Chương 5
Đón
đọc Chương 6: Quyền thách thức tính hợp pháp của việc giam giữ
Ls Đặng Trọng
Dũng
sưu tầm và giới
thiệu

Comments
Post a Comment