BẰNG CHỨNG VỀ LIÊN HỆ GIA ÐÌNH TRONG VẤN ÐỀ BẢO LÃNH THÂN NHÂN.- Gs Trần Văn Liêm

 

BẰNG CHỨNG VỀ LIÊN HỆ GIA ÐÌNH TRONG VẤN ÐỀ BẢO LÃNH THÂN NHÂN.

 TRẦN VĂN LIÊM

Nguyên Giáo Sư Ðại Học Luật Khoa Saìgon

Nguyên Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện VNCH

* Kính dâng hương hồn cố Giáo Sư VŨ VĂN MẪU, vị luật gia lỗi lạc đã tận tình hướng dẫn tôi làm luận án Tiến Sĩ Luật Khoa (Ban Tư Pháp)

 

    Vấn đề bảo lãnh thân nhân để cho họ được cư trú tại Mỹ với tư cách thường trú nhân (permanent resident) và trở thành công dân Mỹ, căn cứ vào những bằng chứng mà người ta đưa ra để chứng minh rằng người được bảo lãnh (beneficiary) có liên hệ với người đứng đơn (petitioner).

      Trước hết,  không phải liên hệ gia đình nào cũng có thể làm căn cứ cho sự bảo lãnh. Chỉ có vợ chông, cha mẹ, con caí và anh chị em là được chấp nhận, những thân nhân khác như: anh chị em chú bác, cô cậu bạn dì, hay chú, bác, cô, dì, cậu hay cháu kêu bàng chú, bác, cô dì, cậu đều không có tư cách. Khi nói tới bảo lanh thân nhân, người ta thường nghĩ tới thân nhân đang ở tại Việt Nam hay một xứ khác như Pháp, Gia Nã Ðại, Uùc Châu v.v.. Nhưng có những trường hợp người thân nhân đã ở Mỹ rồi và cũng cần được bảo lãnh để có thể cư ngụ hợp pháp tại Mỹ.

      Thí dụ: 1) Một người lớn tuổi được phép du lich qua Gia Nã Ðại, đi lậu qua Mỹ và ở đó luôn với một người con có quốc tịch Mỹ. 2) Người đàn ông từ Pháp du học qua Mỹ, kết hôn với một người đàn bà có quốc tịch Mỹ và muốn ở luôn tại Mỹ. Trong cả hai trường hợp, người từ xứ khác đến và đang ở tại Mỹ, cần phải được bảo lãnh mới có thể cư ngụ hợp pháp được.

      Trong sự bảo lãnh, cần phải phân biệt tình trạng lưu ngụ của người đứng đơn (tức là người đứng ra bảo lãnh) và người được bảo lãnh, tức là người muốn được phép di trú đên Mỹ. Người đứng đơn có quyền lợi hoàn toàn khác nhau tùy theo người có quốc tịch Mỹ hay chỉ là thường trú nhân.

      Người có quốc tịch Mỹ có thể bao lãnh: vợ hay chồng, con cái, cha mẹ (nếu người con 21 tuổi trở lên) và anh chị em bất cứ tuổi nào và có gia đình hay không. Trái lại, thường trú nhân, tức là người có thẻ xanh, chỉ được bảo lãnh một số thân nhân mà thôi: a) vợ hoặc chông, b) con dưới 21 tuổi và chưa có gia đình, c) con trên 21 tuổi và chưa có gia đình.

      Trong lúc làm đơn, hay làm đơn xong mà người được bảo lãnh chưa đến Mỹ, hoặc chưa được hợp thức hóa, có một vài sự thay đổi về quốc tịch hay tình trạng gia đình làm cho người được bảo lãnh có thể đến được Mỹ mau hơn hay mất quyền được di trú đến Mỹ.

      Thí dụ: Người chồng có thẻ xanh, xin bảo lãnh cho vợ tại Việt Nam: thông thường phải đợi vài ba năm. Nếu trong lúc người vợ chưa qua Mỹ mà người chồng có quốc tịch Mỹ thì người vợ sẽ thay đổi qui chế và sẽ được qua Mỹ mau hơn. Người mẹ có thẻ xanh nạp đơn xin bảo lãnh cho người con gái 19 tuổi, chưa có gia đình. Nếu trước ngày qua Mỹ mà người con lập gia đình thì đơn của người mẹ sẽ bị bác, và người mẹ sẽ phải đợi đến khi có quốc tịch mới xin bảo lãnh lại được.

      Nếu người mẹ lớn tuổi và ít học thì có thể không bao giờ bảo lãnh cho người con gaí được, vì không thi đậu quốc tịch Mỹ. Cần phải ghi thêm rằng tình trạng lưu ngụ của người bảo lãnh tại xứ đang ở, sẽ không có ảnh hưởng nào đến việc bảo lãnh. Nếu người được bảo lãnh ở Gia Nã Ðại, Pháp, hay Uùc Châu, thì dù người đó có quy chế tị nạn, thường trú nhân hay công dân, việc này không có ảnh hưởng đến việc xin bảo lãnh của thân nhân ở tại Mỹ. Như chúng ta đã thấy, có một trong ba mối liên hệ gia đình cần phải được chứng minh với sở di trú Mỹ để cho lá đơn xin bảo lãnh được chấp thuận: 1) Liên hệ vợ chồng. 2) Liên hệ cha mẹ và con cái. 3) Liên hệ anh chị em.

I . Chứng minh liên hệ vợ chồng:

      Bằng chứng thông dụng nhất để chứng minh liên hệ vợ chồng là chứng thư hôn thú (mariage certificate). Vì các văn phòng tư nhân lập hôn thú thường quảng cáo danh từ “Mariage License” nên người ta lầm tưởng rằng đó là chứng thư hôn thú. Thật ra “Marriage License” chỉ là một chứng thư do một người Clerk (lục sự) của county hay một notary Public được county cho phép chứng nhận rằng người phái nam và người phái nữ có đủ điều kiện để kết hôn. Sau khi có marriage license các đương sự phải đến gặp một nguời Clerk của county hay một tu sĩ của bất cứ tôn giáo nào, để cho các viên chức ấy lập hôn thú (Marriage certificate). Nếu không thể nạp chứng thư hôn thú, người đứng đơn có thế dùng những bằng chứng khác để có thể thay thế, chẳng hạn giấy hôn phối do một tu sĩ cấp phát đối với những người theo Thiên Chúa Giáo, sự kiện người cha khai với viên chức hộ tịch rằng mẹ của đứa trẻ là vợ chính thức của mình. Nhưng sở Di Trú vẫn có quyền đòi đương sự phải nạp tờ “ chứng nhận sót bộ”, để chứng minh rằng tờ hôn thú không có hay thất lạc.

      Người đứng đơn cũng như người được bảo lãnh, nếu đã có kết hôn trước đó với người khác, sẽ phải chứng minh rằng hôn thú truớc đã bị tiêu hủy vì người vợ hay người chồng trước đã chết hay đã ly dị với mình. Ðể chứng minh các sự kiện này đương sự phải nạp bản sao có chứng nhận của tờ khai tử do viên chức hộ tịch cấp phát hoặc bản sao có chứng nhận của bản án ly dị do viên lục sự (Clerk) của tòa cấp phát. Nơi đây cần phải ghi nhận sự khác biệt về hiệu lực của chứng thư hôn thú theo luật dân sự và luật di trú. Theo luật dân sự, một khi đã lập hôn thú xong, hai người có tư cách vợ chồng, nhất là về phương diện thừa kế, mà không cần phải chứng minh có ở chung với nhau. Trái lại, theo luật di trú của Mỹ, hôn thú không đủ để chứng minh liên hệ vợ chông. Hai người còn phải chứng minh được đã ở chung với vợ mới cưới trong một thời gian ngắn hay dài. Trường hợp đặc biệt của người hôn thê và hôn phu. Bên cạnh liên hệ vợ chồng. Chúng ta cần phải ghi thêm một mối liên hệ tương tự: đó là liên hệ giữa người hôn thê và hôn phu (thường được gọi là “vợ chồng chưa cưới”). Theo luật di chú của Mỹ, một người có quốc tịch Mỹ có quyền nạp đơn xin cho một người hôn thê (fiancée) hay hôn phu (fiancé) đang ở tại xứ khác được phép đến Mỹ để lập hôn thú với mình. Muốn xử dụng thủ tục này, các đương sự phải hợi đủ các điều kiên sau đây: 1) Người đứng đơn phải có quốc tịch Mỹ. Như vậy người có thẻ xanh có thể về Việt Nam để kết hôn với một người khác rồi nạp đơn để xin bảo lãnh cho người vợ hay chồng đó, chớ không thể nạp đơn để xin cho một hôn thê hay hôn phu đến Mỹ để lập hôn thú, mặc dù hai người có làm lễ hỏi thực sự.  2) Hai người phải có quyết định và chuan bị kết hôn với nhau trong vòng ba tháng sau khi người được bảo lãnh đến Mỹ. Bằng chứng thông dụng của quyết định này là lễ hỏi làm tại ngoại quốc, được chứng minh do các hình ảnh hoặc video.  3) Hai người phải có trực tiếp gặp nhau ít nhất là một lần trong thời hạn hai năm trước ngày nạp đơn xin bảo lãnh. Bằng chứng này có thể là: giấy thông hành có ghi ngày tháng và nơi người đứng đơn đến tại ngoại quốc, vé máy bay, bản chi tiết chi phí điện thoại, hình ảnh v.v..Tuy nhiên điều kiện gặp nhau trong vòng hai năm có một ngoại lệ: người đứng đơn có quyền xin được miễn việc gặp trực tiếp hôn thê hay hôn phu nếu việc gặp nhau mang lại một sự trở ngại trầm trọng (extreme harship) cho nguyên đơn, hoặc nếu phong tục tại xứ mà người hôn thê hay hôn phu đang cư ngụ, cầm đoán các người vợ chồng chưa cưới gặp nhau một mình. Sự trở ngại trầm trọng vừa nói trên có thể là: người đứng đơn bị bệnh tim không thể đi máy bay được, bgười đứng đơn không thể bỏ cơ sở làm việc vì không có người thay thế. Ðơn xin phép miễn gặp nhau trong thời hạn hai năm phải nộp tại văn phòng Bộ Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ (Anttorney General of the United States). Nếu đơn xin cho hôn thê hay hôn phu đến Mỹ để kết hôn được chấp nhận thì các người con của người đó được phép đi theo cha hay mẹ và được quyền di trú đến Mỹ, nếu chưa đủ 21 tuổi và chưa lập gia đình. Người hôn thê hay hôn phu sau khi đến Mỹ phải lập hôn thú trong thời hạn 3 tháng mới có thể xin hợp thức hóa tình trạng lưu ngụ và xin cấp thẻ xanh tại một văn phòng Sở Di Trú Mỹ.  Kể từ ngày 15 tháng 1 năm 1998, néu không lập hôn thú với người đứng đơn, thì người hôn thê hay hôn phu không thể hợp thức hóa tình trạng tại văn phòng sở Di Trú địa phương sau khi kết hôn với một người khác, cũng có quốc tịch Mỹ, Trong trường hợp đã lập hôn thú với một người khác, đương sự phải trở về nguyên quán để được phỏng vấn tại Tòa Lãnh Sự Mỹ nơi xứ của mình. Ðây là một sự thay đổi rất quan trọng vì trước năm 1998, người hôn thê hay hôn phu không kết hôn với người đứng đơn bảo trợ cho mình có quyền kết hôn với bất cứ một người nào khác có quốc tịch Mỹ, rồi xin hợp thức tại Mỹ mà khỏi cần trở về nguyên quán để được phỏng vấn tại một văn phòng Lãnh Sự Mỹ. 

II.  Chứng minh liên hệ cha mẹ và con cái: 

   A.  Nếu người đứng đơn là người mẹ ruột của một người con độc thân hay có gia đình, hoặc là một người con xin bảo lãnh cho người mẹ ruột, thì đương sự phải nộp bản sao khai sinh của đứa con, có ghi tên người mẹ. Nếu đứa con là con gái có gia đình thì đứa con đó phải nạp thêm hôn thú, nếu tên hiệu lại khác với tên trong khai sinh.  Thí dụ:  người con gái là Nguyễn Thị Mai, con của Nguyễn văn A và Trần Thị B. Người con gái đó kết hôn với Võ Van C, và đổi tên là Võ Thị Mai để lấy họ chông theo tục lệ của Mỹ. Khi so sánh khai sinh và hôn thú của người con gái, Sở Di Trú sẽ thấy ngay răng người này là con của bà Trần Thị B. 

   B.  Nếu người đứng đơn là người cha ruột xin bảo lãnh cho một đứa con độc thân hay có gia đình, hoặc là một người con xin bảo lãnh cho cha mẹ ruột, thì người ta phải phân biệt hai trường hợp:

   1) Trường hợp người con là con chính thức thì các giấy tờ sau đây phải nộp cho Sở Di Trú: 

      a)Khai sinh của đứa con có ghi tên cha mẹ nó.

      b) Hôn thú giữa cha mẹ. Nếu cha mẹ đã có lập một hay nhiều hôn thú trước, cần phải nộp thêm giáy khai tử hay bản án ly dị để chứng minh rằng các hôn thú trước đã bị tiêu hủy. 

     c)  Hôn thú giữa người con gái có chồng, nhọ hiện thời của người con gái khác với họ trong giấy khai sinh vì đã lấy họ của chồng. 

   2)  Trường hợp người con là con tư sinh thì các bằng chứng phước tạp hơn nhiều. Người đứng đơn phải nạp:

      a)  Khai sinh của đứa con có ghi tên người cha hay ghi rằng người cha “vô danh” 

      b)  Hôn thú của người con gái có chồng, nếu người đó đã lấy họ chồng theo phong tục của Mỹ.

      c)  Bằng chứng về mối liên hệ về máu mủ giữa người cha và người con; bằng chứng này có thể là:  *  kết qủa của thou máu.  *  Sự kiện tên người cha có ghi trong giáy khai sinh của người con.  *  Hai tờ khai có tuyên thệ (affidavit) của hai người có biết rõ về sự sinh đẻ của đứa con; một trong hai người là mẹ ruột của đứa con, có ghi rõ ngày tháng và nơi sinh của nó, cũng như sự kiện người đứng đơn là cha của đứa true. 

      d)  Bằng chứng rằng trong thực tế hai người xem với nhau là cha con và được gia đình và xã hội công nhận như vậy, nhất là sự kiện người cha đã nuôi dưỡng người con, tài trợ cho nó, lo lắng về việc học vấn và sinh sống của nó, trong lúc đứa con chưa đủ 21 tuổi và chưa có gia đình.  Các bằng chứng loại này thường được Sở Di Trú công nhận là:”money order” và chi phiếu trả tiền cho con sinh sống, ăn học, ở đậu nhà người khác .v.v.., tờ khai thuế có ghi tên của đứa con, chứng thư của bác sĩ, bệnh viện, trường học; thư từ trao đổi giữa người cha và người con, các tờ khai có tuyên thệ (affidavit) của các bạn bè, người láng giềng, giáo sư, hiệu trường học v.v.. .

      Nếu người đứng đơn là người cha ghẻ xin bảo lãnh cho người con riêng của vợ, hoặc người con riêng của vợ xin bảo lãnh cho người cha ghẻ, các giấy tờ sau đây phải nạp:  Khai sinh của người con có ghi tên mẹ ruột.  Hôn thú của người cha ghẻ và người mẹ ruột, cho thấy rằng hôn thú đã được thành lập khi đứa con chưa đủ 18 tuổi.  Bản án ly dị hoặc chứng thư khai tử chứng minh rằng hôn thú giữa người cha ghẻ và người vợ trức đã bị tiêu hủy; Bản án ly dị hoặc chứng thư khai tử chứng minh rằng hôn thú giữa người mẹ và người chồng trước đã bị tiêu hủy.

       Nếu người đứng đơn là người mẹ ghẻ xin bảo lãnh cho con riêng của chồng, hoặc người con riêng của chồng xin bảo lãnh cho mẹ ghẻ, các giấy tờ tương tự như trên phải nạp cho Sở Di Trú.  Ngoài ra, về quy chế của con riêng của chồng, cần phải phân biệt hai trường hợp: nếu đứa con riêng của chồng là con chính thức, thì phải nạp khai sinh có tên cha mẹ ruột của nó. Nếu đứa con riêng là con tư sinh và khai sinh có ghi là cha “vô danh”, thì cần phải có hai tờ khai có tuyên thệ như trong trường hợp của người con tư sinh đã trình bầy trên đây.

      Nếu có thể được, nên nạp tờ khai có tuyên thệ của người mẹ ruột của đứa con (đã có ăn ở với cha của nó),khai rằng mình có sinh ra đứa con trong lúc ăn ở không chính thức với người cha của đứa con đó.   III.   Chứng minh liên hệ giữa anh chị em.  

      Ðể bảo lãnh cho anh chị em, người đứng đơn phải có quốc tịch Mỹ. Nếu người đứng đơn và người anh chị em được bảo lãnh có cùng một mẹ ruột (tức là nah chị em cùng mẹ khác cha) thì chỉ cần nạp khai sinh của cả hai người anh chị em, có ghi tên người mẹ ruột đó. 

      Nếu người đứng đơn và người anh chị em có chung người cha ruột (anh chị em cùng cha khác mẹ) thì ngoài hai tờ khai sinh như trên còn phải nạp thêm tờ hôn thú của cha mẹ (nếu là anh chị em ruột) hoặc tờ hôn thú của người cha với mỗi người mẹ (nếu là anh chị em cùng cha khác mẹ). 

      Trong trường hợp một trong hai người (người đứng đơn hoặc người được bảo lãnh) không có giấy khai sinh, đương sự cần phải nạp thêm những bằng chứng khác mà Sở Di Trú chấp nhận, như chứng thư thế vì khai sinh, lời khai có tuyên thệ (affidavit) của thân nhân, v.v..

      Ngoài anh chị em do máu mủ. Anh chị em ruột, cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha, còn có anh chị em do những liên hệ pháp lý khác như việc lập con nuôi và việc người cha hay người mẹ có lập hôn thú nhiều lần. Chẳng hạn, một người con nuôi của ông A bảo lãnh cho người con ruột của ông này. Một người con ghẻ của bà B bảo lãnh cho người con ruột của chồng bà. Một người con ghẻ của bà B bảo lãnh cho người con ruột của bà này. Tùy theo trường hợp, ngoài các khai sinh và hôn thú, người đứng đơn còn phải nạp thêm bản án ly dị giữa cho mẹ, tờ khai tử, bản án lập con nuôi v.v.. Sở dĩ có nhiều trường hợp như vậy là vì luật di trú Mỹ cho con ghẻ và con nuôi các quyền lợi giống như con chính thức.  

IV.   Quy định chung về các chứng thư hộ tịch.  

   1) Theo nguyên tắc đã có từ cổ luật La Mã “Locus Regit Actum” (chứng thư được chi phối do nơi thành lập), chứng thư họ tịch (hôn thú, khai sinh, khai tử, tờ nhìn nhận con, v.v..) lập tại bất cứ nớ nơi nào cũng có giá trị tại Mỹ, miễn là thành lập hợp pháp tại xứ đó.

      Như vậy một tờ khai sinh hay hôn thú được chính quyền Việt Nam công nhận là hợp pháp sẽ có giá trị đối với Sở Di Trú. Ngày thiết lập chứng thư, và ngày cấp bản sao có thị thực cũng không quan trọng. Một tờ hôn thú hay khai sinh được cấp trước hay sau năm 1975 cũng có giá trị như nhau. Tài liệu của một đệ tam quốc gia như Pháp, Ðức Uùc Châu, v.v.. cũng hoàn toàn có giá trị. Ngay cả chứng thư hộ tịch của một chính quyền thực tại (de facto govement) bất hợp pháp theo luật quốc tế, và không được xứ nao công nhân, vẫn có giá trị.

     2)  Nếu chứng thư hộ tịch lập bằng chữ ngoại quốc (kể luôn chữ Việt) thì đương sự phải nạp thêm một bản phiên dịch cho mỗi tài liệu. Người phiên dịch phải trên 18 tuổi và không phải là đương sự hay thân nhân trực tiếp. Chữ ký của người phiên dịch phải được Notary Public thị thực.  Quy định này rất dễ dãi, làm chúng ta có thể dịch dễ dàng chứng thư của bất cứ xứ nào. Tài liệu khai sinh, hôn thú gồm có tên họ, ngày và nơi sanh của đứa true, tên, tuổi, nghề nghiệp của cha mẹ, ngày và nơi lập hôn thú, tên của vợ và của chồng. Không cần giỏi tiếng ngoại quốc cũng dịch được. MỘt người nữ sinh từ Ðan Mạch đến Mỹ du học, kết hôn với một người có quốc tịch Mỹ, cần phải nộp một chứng thư bằng chữ Ðan Mạch. Tờ này chỉ cần một người bạn hay bà con xa, cũng từ Dan Mạch đến, dịch ra Anh văn, rài nhờ một notary public thị thực chữ ký. Nếu mướn một văn phòng phiên dịch Mỹ có chuên viên tiếng Ðan Mạch thì phải trả chi phí cao. Nếu tài liệu phải dịch khá dài (3 trang trở lên), người ta có thể dịch nhưỡng điều quan trọng và bỏ bout phần khác hay không? Lúc trước SỞ Di Trú cho phép dịch một bản trích dịch, ghi chú các điểm quan trọng của tài liệu. Nhưng hiện nay, Sở Di Trú bắt buộc phải dịch toàn thể tài liệu. Như vậy một bản án ly dị có tranh chấp hay có phân chia tài sản gồm 5 trang, cần phải dịch đầy đủ, mặc dầu Sở Di Trú chỉ cần biết tên họ nguyên đơn và bị đơn, ngày tòa tuyên án và ngày mà hai bên có quyền kết hôn với người khác. 

   3) Các tài liệu hộ tịch chỉ cần nộp bản sao tức là bản chụp hình chứ không cần phải nộp bản chính (that ra danh từ “bản chính” do người ta thường dùng, ám chỉ một bản sao có viên chức hộ tịch hay lục sự tòa án chứng nhận và đóng dấu). 

      Theo chỉ thị của sở Di Trú người đứng đơn không cần nạp bản chính, chỉ cần nạp một bản sao tài liệu, có thêm một bản chính của bản dịch (không thể chụp hình bản dịch có chữ ký của người dịch và con dấu notary public để nạp). Người đứng đơn không nên nộp bản chính các tài liệu vì các bản chính sẽ không được hoàn lại và sẽ bị that lạc. Tuy nhiên, khi nào Sở Di Trú gởi báo thị (Notice) đòi hỏi phải trình bản chính thì người đứng đơn phải nạp trong vòng 12 tuần lễ kể từ ngày ghi trong tờ báo thị của Sởû Di Trú, nếu không đơn sẽ bị bác.  Bản chánh không được nạp sẽ do người được bảo lãnh gìn giữ để xuất trình cho viên chức của Sở Di Trú hay tòa lãnh sự Mỹ khi các viên chức này đòi hỏi. 

V.Trường hợp không có chứng thư hộ tịch:

        Chứng thư hộ tịch là bằng chứng chánh yếu (primary evidence) về mối liên hệ gia đình và các biến cố khác trong gia đình. Nhưng có nhiều trường hợp người đứng đơn không có tài liệu này để nạp.   Có một số quốc gia không có sổ bộ hộ tịch trong khoảng thời gian nào hay trong tỉnh, quận nào, chẳng hạn Trung Quốc và Aán Ðộ.

      Bộ ngoại giao Hoa Kỳ có một cuốn sổ ghi chép tình trạng sổ bộ hộ tịch của từng xứ trên kháp thế giới. Nếu cuốn sổ này ghi rằng các chứng thư hộ tịch thường được cấp phát trong một xứ nào thì đương sự phải nạp một bản sao có chứng nhận, chứ không thể dùng các bằng chứng khác. Việt Nam được danh dự xếp vào các xứ mà sổ bộ hộ tịch rất đầy đủ và ít có sự that lạc hay tiêu hủy, mặc dù có biến cố chiến tranh hay sự thay đổi chánh quyền trong năm 1975.    Nhưng chúng ta phải trả danh dự này với giá rất cao, vì Sở Di Trú có quyền đòi hỏi người Việt phải xuất trình chứng thư hộ tịch trước tiên: nếu chứng thư không thể xin cấp được vì các sự thiếu sót sổ bộ hộ tịch, chúng ta mới có thể dùng các bằng chứng khác.  Nhưng chúng ta lại có hai lối thoát vì luật di trú Mỹ cho phép một người đứng đơn chứng minh rằng y không thể xin trích lục được mặc dù sổ bộ hộ tịch không bị thiếu sót. 

       a) Nếu là người tỵ nạn (refugê), người dứng đơn có thể khai rằng theo luật quốc tế (Hiệp dịnh geneve) người tỵ nạn không còn liên hệ pháp lý nào với xứ sinh đẻ của mình, và được xếp vào hạng người không có quốc gia hoặc không có “Tổ Quốc” (chữ Anh là stateless, chữ Pháp là apatrde). (Không có quốc gia) thì làm sao xin xứ mình cấp giấy tờ chính thức được? Tình trạng này vẫn tồn tại sau khi đương sự nhập tịch tại Mỹ, nên thiết tưởng Sở Di Trú phải chấp nhận rằng người tỵ nạn (khác với người đi chính thức theo thủ tục đoàn tụ gia đình) không thể xin cấp phát chứng thư hộ tịch tại Việt Nam. 

       b)  Theo luật di trú, chúng ta phải yêu cầu chính quyên nơi nguyên quán một tờ chứng nhận trên giấy có tiêu đề, ký tên và đóng dấu, xác nhận và cho biết lý do của sự thiếu sót của sổ hộ tịch. Văn thư này còn phải cho biết rõ những chứng thư tương tự cùng thời gian và địa điểm đó có được ghi vào sổ hộ tịch không. 

   Thí dụ: Ðương sự khai có kết hôn tại xã Long Trung, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho vào tháng 12 năm 1973. Viên chức hộ tịch hiện thời phải xác nhận: sổ bộ hôn thú của xã năm 1973 còn tồn tại hay bị thất lạc. Nếu bị thất lạc thì đương sự có quyền mang lại các bằng chứng khác để chứng minh liên hệ vợ chồng. Trái lại nếu viên chức hộ tịch xác nhận sổ bộ hộ tịch vẫn còn, không tìm ra chứng thư hôn thú của đương sự nhưng các chứng thư hôn thú khác của xã trong năm 1973 vẫn còn đầy đủ thì Sơ Di Trú sẽ kết luận là đương sự không có lập hôn thú và sẽ không cho mang lại các bằng chứng khác. 

      Nếu người đứng đơn yêu cầu cấp phát bản sao có chấp nhận của chứng thư hôn thú hay khai sanh nhưng chánh quyền tại Việt Nam không trả lời thì người đó phải chứng minh đã nhiều lần tìm cách xin cấp một cách ngay tình (repeatedand gơd faith attempts) nhưng không có kết qủa.  Tờ chứng nhận thiếu sót sổ hộ tịch quy định do luật Di Trú Mỹ giống như tờ “chứng nhận sót bộ” thông dụng tại Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Tờ này phải nộp cho tòa trong thư tục xin bản án thế vì khai sinh. Lúc đó, các đương sự thường hay khai rằng mình đã sinh đẻ hay lập hôn thú tại một xã hẻo lánh nào đó (vì thành phố lớn không thể mất hay thiếu sót sổ hộ tịch), để cho viên chức hộ tịch có thể cấp tờ chứng nhận sót bộ rễ ràng hơn. Chắc chắn tờ chứng nhận này không thể được cấp phát về sự sinh đẻ hay kết hôn sau năm 1975, vì chính quyền đương thời không bao giờ chịu chứng nhận có sự thiếu sót sổ hộ tịch, vì việc này chứng tỏ có sự loạn lạc hay bất cẩn của viên chức có trách nhiệm. 

      Nếu thỏa mãn các điều kiện của Sở Di Trú về sự chứng nhận thiếu sót sổ bộ hộ tịch, đương sự có quyền dùng những bằng chứng khác để chứng minh mối liên hệ gia đình. Sự dẫn chứng phải tuân theo thứ tự ưu tiên sau đây:  

   Ưu tiên thứ nhất:   Các bằng chứng phụ thuộc (secondary evidence) tức là các tài liệu làm ra do một cơ quan công hay tư có thẩm quyền để xác nhận các sự kiện và lý loch của đương sự hay mối liên hệ gia đình của người này với người khác.  Các bằng chứng phụ thuộc gồm có: giấy thế vì khai sinh, giấy rưả tội (baptism) của các người theo thiên chúa giáo, các tài liệu của trường học, công sở, bệnh viện, bác sĩ, hãng bảo hiểm v.v.. Mặc dù các chỉ thị của Sở Di Trú không bao giờ đề cập đến, các chứng thư của cơ quan Phật Giáo cấp phát cũng phải được công nhận là có giá trị. 

      Thí dụ: Một tờ chứng nhận của một vị sư trụ trì của m,ột chùa tại Việt Nam xác nhận rằng ngày 15 tháng 4 năm 1975, chùa có làm lễ tang cho gia đình ông X sinh ngày . . . cheat ngày . . . .Tờ chứng nhận này là bang chứng phụ thuộc thay thế cho tờ khai tử không thể lập được lúc đó, hay đã lập xong mà sổ bộ bị thất lạc, vì thời cuộc và những biến cố quan trọng sắp đến.   Aùn thế vì khai sinh của tòa án Mỹ dễ xin hơn là người ta tưởng. Tại California, chỉ cần nạp đơn cho tòa Superior court (tương đương với tòa sơ thẩm của Việt Nam). Trong von2ng 10 ngày tòa sẽ xét đơn và tuyên án thế vì khai sinh, sau khi nghe nguyên đơn trình bày. Sau đó, nguyên đơn xin hai bản sao có chứng nhận của bản án, một là để dùng ngay và một để gởi lên văn phòng Trung Ương của Tiểu bang tại Sacramento đẻ đăng ký. Làm song thủ tục này, nguyên đơn có thể xin cấp bản sao có chứng nhận suốt đời.  

   Ưu tiên thứ nhì:  Nếu không thể nạp chứng thư hộ tịch mà cũng không có các tài liệu phụ thuộc trên đây chứng minh mối liên hệ gia đình, đương sự có thể dùng tờ khai có tuyên thệ (affidavits) của các nhân chứng.  Người khai phải ghi rõ lý lịch và địa chỉ của mình, mối liên hệ với người mà mình đứng ra làm chứng và lý do tại sao mình biết rõ biến cố cần phải chứng minh.  Thí dụ có dự đám cưới, làm y tá tại nhà bảo sanh nơi đứa true sinh ra, có làm chứng trong vụ án ly dị, v.v .Nhân chứng có thể là thân nhân của người đứng đơn xin bảo lãnh và người được bảo lãnh. Nơi đây chúng ta cần phải ghi nhận một sự khác biệt quan trọng giữa luật Hoa Kỳ và luật Việt Nam. 

      Theo luật Việt Nam các thân nhân gần không được làm chứng vì luật pháp sợ có sự tư vị trong lời khai. Tại Mỹ, trong vấn đề hộ tịch, các thân nhân được quyền làm chứng như những người khác, vì họ biết rõ các biến cố xay ra. Một người bạn ít khi biết rõ chi tiết thời gian, địa điểm, của sự sinh đẻ hoặc sự tử vong của một người nào. Do đó mặc dù theo nguyên tắc, người làm chứng phải là người vô tư, luật di trú Mỹ cho phép các thân nhân làm tờ khai có tuyên thệ về các biến cố đã xảy ra trong gia đình.  Nhân chứng biết rõ nhất sự sinh đẻ của đứa true là người mẹ của đứa trẻ đó.

      Kế đó là người cha, và anh chị em của cha mẹ như: cô, cậu, dì, chú, bác. Các người ngoài có thể là bác sĩ, y tá, giám đốc bệnh viện, v.v. . Riêng tại California, lời khai có tuyên thệ không cần phải có thị thực do một Notary Public. Luật Hoa Kỳ không e ngại về sự làm chứng gian, bởi vì tội này bị trừng trị theo hình luật dưới tội danh “perjury”. Tại Mỹ, rất nhiều nhân vật quan trọng, có quyền thế, có nhiều tiên bạc, đã bị truy tố và tù tội, chỉ vì khai gian với Quốc Hội, với Sở Thuế Vụ, hay các cơ quan khác.  

      Ðể kết luận, chúng ta thấy có nhiều phương cách để chứng minh mối liên hệ gia đình trong việc bảo lãnh cho thân nhân di trú đến Mỹ. Vậy những người không thể có được bản trích lục khai sinh hoặc hôn thú của mình hay của thân nhân, không nên nản long và bỏ cuộc. Nếu ben trí và đủ hiểu biết, hoặc chờ một văn phòng chuyên nghiệp, thì thế nào cũng chứng minh được mối liên hệ gia đình và đơn xin bảo lãnh thân nhân sẽ có kết qủa.  

      Luật Di Trú Hoa Kỳ tuy có vẻ phưc tạp nhưng vẫn có tính cách nhân đao trong vấn đề bảo lãnh thân nhân và đoàn tụ gia đình.   Ngoài ra trong những lãnh vực mà luật lệ không rõ ràng và cần được giải thích, Sở Di Trú không thể giải quyết hồ sơ một cách độc đoán, vì đương sự có quyền kháng cáo quyết định của sở di trú lên hội đồng phúc thẩm các vụ di trú (Board of Immigration Appeals). Trong thủ tục này, đương sự không cần phải có luật sư biên hộ, nhưng phải nạp một biên minh trạng ghi rõ các lý do kháng cáo. Có nhiều người thắng kiện tại hội đồng này sau khi bị Sở Di Trú bác đơn.

 Gs. Trần Văn Liêm

Viết xong tại Rosemead,California

Tháng 2 năm 2000

 

 

Comments

Popular posts from this blog

THÔNG BÁO Về Đặc San Luật Khoa 2025 cập nhật.

Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán 0

CÂU KẠC BỘ LUẬT KHOA VIỆT NAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI ẤT TỴ 2025