Luật Pháp Đối Chiếu (Comparative Law) THE DEFENDANTS' RIGHTS - Luật sư Tạ Văn Tài
Luật Pháp Đối Chiếu (Comparative Law)
THE DEFENDANTS' RIGHTS
by
Ta Van Tai
LỜI PHI LỘ.
Bài
này là một trong nhiều bài thuyết trình của phái đoàn 6 luật sư Hoa Kỳ du lịch
về Hà Nội, với sự bảo trợ tài chánh của tổ chức International Bridges For Justice
tại Genèva,để trình bày tài khóa Tập huấn vào đầu Tháng 4 năm 2004 cho khoảng
400 luật sư Việt Nam tại Miền Bắc Việt Nam, với sự bảo trợ về tổ cju71c của Bộ
Tư pháp Việt Nam và Đoàn Luật sư Hà Nội. Trong sự trao đổi về kỹ năng hành nghề
luật sư với các luật sư Việt Nam, luật sư Tạ Văn Tài (và các luật sư khác từ Hoa Kỳ) muốn trao đổi kinh nghiệm từ
Hoa Kỳ với các luật sư Việt Nam, dựa vào sự so sánh luật án lệ của Hoa Kỳ với
các tiêu chuẩn trong luật thành văn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự của Việt Nam
vừa ban hành vào đầu năm và thi hành vào tháng 7, 2004, về một kjia1 cạnh của
công việc bảo vệ thân chủ của luật sư: QUYỀN BỊ CAN/ BỊ CÁO.
Luật sư Tài cho biết là các luật sư
Việt Nam có lòng tự trọng rất cao về vai trò nghề nghiệp của họ, muốn tìm hiểu,
học hỏi về thực tiễn hành nghề luật sư ở nước ngoài., đặc biệt là tại nơi có nền
dân chủ trên 200 năm của Hoa Kỳ; và sau buổi thuyết trình, co 1ra61t nhiều luật
sư vây quanh luật sư tài để hỏi thêm. Ls Tài thấy chính họ là những người tranh
đấu cho dân quyền và nhân quyền trong khuôn khổ luật pháp của chế độ.
Nhưng vẫn cần dám nêu lên những điều
phải cải tổ thêm trong luật. Thí dụ phải cho bị can, bị cáo và luật sư của họ
nhiều bảo đảm hơn và họ đã đuc kết thanh một danh sách các điều yêu cầu (Thí dụ
phải cho bị can, bị cáo có luật sư ngay trong giai đoạn tham vấn sơ khởi tại cơ
quan công an điều tra, [Điều này cính ông Chánh án Phòng Hình Sự Tóa án ối Cao,
có hiện diện và nói chuyện trong khóa này cũng đồng ý ] và phải cho luật sư tự
do gặp thân chủ dễ dàng hơn, nhiều giờ hơn). Người dân thấp cổ bé miệng tại Việt
Nam đang có những người tranh đấu cho dân quyền/nhân quyền của mình ngay tại
trong nước... Cộng đồng dân tộc tại hải ngoại cũng nên nhớ là ngay trong cộng đồng
dân tộc ở trong nước cũng đã, đang có những chiến sĩ can đảm dám tranh đấu cho
nhân dân được các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền.
Các quyền của bị
can,bị cáo:
SO SÁNH CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN HOA KỲ
Luật sư
Tạ Văn Tài
Trợ tá nghiên cứu/Giảng viên, Đại học
Luật Harvard
Trước khi nói vô đề tài, tôi xin nói mấy
câu mở đầu để bày tỏ sự vui mừng về tiến bộ mau chóng, vượt bực trong lãnh vực
lập pháp tại Việt Nam quê hương thứ nhất của tôi, so sánh với nước lớn Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa. Thực ra thì Việt Nam đã có truyền thống lập pháp đầy đủ
hơn, sớm hơn Trung Quốc. Chẳng hạn, vào năm 1975 Trung Quốc có một hiến pháp ngắn
ngủi và coi thường vai trò của luật pháp và luật gia và phải đợi đến 1979 thì
ông Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền mới đưa vào một thời kỳ trọng pháp. Năm 1986,
Phó Thủ tướng Qiao Shi và Bộ trưởng Tư pháp Zou Yu vẫn còn phải nói là sau bao
nhiêu năm cố hồi phục vì sự tàn phá của Cuộc Cách mạng văn hóa, thì rất cần phải
phát triển hệ thống pháp luật và hệ thống đoàn luật sư để đem lại an toàn pháp
lý và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội (Nhân Dân Nhật báo 7/7/1986). Về
hình sự tố tụng, Trung Quốc có một dự thảo 200 điều vào năm 1963, nhưng sau đó
bị xếp xó; đến 1979 mới có Bộ Tố tụng Hình sự đầu tiên 164 điều, được tu chính
năm 1996, giảm xuống còn 110 điều. Hơn 1 tỷ người, Trung Quốc chỉ có vài ngàn
luật sư vào năm 1979; phải đợi đến năm 1996 mới có 100.000 luật sư. Đem so
sánh, thì Việt Nam đã có 4 Hiến pháp dài và đầy đủ: 1946,1959, 1980 và 1992, và
đã có một loạt các các bộ luật suốt từ thời Pháp thuộc đến giờ. Dù kháng chiến
giành độc lập chống Pháp, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn có văn bản nói rõ
là các bộ luật thời Pháp không trái với chủ quyền quốc gia, trong các lãnh vực
dân sự, hình sự chẳng hạn, vẫn áp dụng. Và ngay trong thời gian dài trong hai
cuộc chiến tranh Việt- Pháp và Việt-Mỹ, Việt Nam vẫn ban hành rất nhiều pháp luật
thành văn, và văn bản dưới luật (đóng thành tập, cũng dày vài ngàn trang). Với
truyền thống lập pháp cẩn thận, số lượng văn bản luật và quy tắc dưới luật tại
Việt Nam nhiều hơn ở Trung Quốc, trước cũng như sau Đổi Mới.
Việt Nam vừa ban hành trong tháng 11 năm
2003 Bộ luật Tố tụng Hình sự, gồm 346 điều, được cải sửa sâu rộng so với Bộ luật
Tố tụng Hình sự cũ 1988. Vì là bộ luật tiến bộ nhất so với các bộ luật cũ của Việt
Nam, và có hiệu lực từ tháng 7 /2004, chúng tôi nghĩ là hợp thời nếu bàn về các
đặc sắc của Việt Nam trong các nguyên tắc pháp lý về quyền bị can/bị cáo (các
nguyên tắc đó được bổ túc căn cứ trên thực tiễn thi hành bộ luật năm 1988) với
thực tiễn thi hành trong hệ thống tòa án của Hoa Kỳ, nước bạn mới của Việt Nam,
trong suốt hơn hai trăm năm nền dân chủ hiến định. Hy vọng rằng so sánh như vậy
sẽ giúp cho việc trao đổi kinh nghiệm hiệu quả hơn giữa các luật gia Việt Nam
và Hoa Kỳ. Đã có nhiều phái đoàn luật gia Việt Nam sang Hoa Kỳ nghiên cứu, tham
quan, từ các ngành hành pháp (Văn phòng Chính phủ), lập pháp (Văn phòng Quốc hội)
và Tư pháp (phai' đoàn do Chủ tịch Tòa án nhân dân tối cao lãnh đạo tới Mỹ năm
2003). Khi đối chiếu lề lối hai nền văn hóa pháp lý Việt và Mỹ giải quyết vấn đề
quyền bị can/bị cáo ra sao, các chuyên gia sẽ thấy hai hệ thống đó có nhiều điểm
tương đồng, hơn là dị biệt, về những nguyên tắc pháp lý của luật pháp và của những
văn kiện căn bản hơn, tức là Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và Hiến pháp Liên Bang
Hoa Kỳ (ghi ở các Tu chính án hay Sửa đổi – Amendments, trong Tuyên ngôn Nhân
quyền – Bill of Rights). Các luật gia quốc tế sẽ rất thú vị thấy rằng luật hình
sự và tố tụng hình sự của Việt Nam đã hiện đại đến mức nào. Cũng như thế, trong
nỗ lực thực hiện Đổi Mới mọi mặt của đời sống toàn đất nước vì mục tiêu “công bằng,
dân chủ và văn minh”, trong đó có lý tưởng “tôn trọng các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân” trong tố tụng hình sự (Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự –
BLTTHS), các luật gia Việt Nam sẽ thấy hữu ích khi nghiên cứu thực tiễn tố tụng
hình sự của Hoa Kỳ trong lĩnh vực quan trọng này, để xem tự do và sự toàn vẹn
con người của công dân được che chở ra sao bởi Hiến pháp của Liên bang và tiểu
bang va` bởi luật, thông luật và án lệ.
*Có vài nhận xét nhắn các
luật sư biện hộ.
Ngay tại Mỹ, cũng phải tranh đấu trường kỳ
mới có công lý cho bị can trong thực tiễn (như lịch sử phát triển án lệ cho thấy).
Tại Việt nam, đã có cái khung pháp lý đầy đủ hơn để tranh đấu cho thân chủ, các
luật sư trong nỗ lực nghiệp vụ có thể học hỏi kinh nghiệm các luật sư Mỹ trong
cố gắng bênh vực cho khách hàng của họ. Theo Luật về Đạo đức nghề nghiệp luật
sư, luật sư tại Mỹ theo đuổi công lý cho khách hàng bằng “nỗ lực mạnh mẽ bênh vực
quyền lợi của khách hàng trong khuôn khổ luật pháp” (stremous efforts to defend
client’s interests within the bounds of law), trong hai lãnh vực: (1) điều tra
kỹ lưỡng về sự kiện để trình bày với tòa án câu chuyện hợp tình lý về mặt các sự
kiện và (2) yêu cầu áp dụng các nguyên tắc pháp luật mà luật sư có quyền xin
tòa giải thích rộng rãi thêm ra có lợi cho thân chủ (argument for extension of
the law). Nếu nhà làm luật, cơ quan áp dụng và thi hành luật có chiều hướng đưa
ra và tuân hành đúng đắn hơn các nguyên tắc luật tốt đẹp, thì luật sư Việt Nam
cũng có khả năng dựa vào khung luật pháp để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của thân
chủ, mà lấy nguồn cảm hứng trong hệ thống luật Mỹ.
I. Khám xét và bắt giữ
Hiến pháp Việt Nam tuyên bố quyền tự do
thân thể cua mỗi công dân là bất khả xâm phạm (Điều 71). Bộ luật Tố tụng hình sự
quy định nguyên tắc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản của
công dân (Điều 7).
Điều 73 của Hiến pháp Việt Nam và Điều 8 của
Bộ luật Tố tụng hình sự bảo vệ tính bất khả xâm phạm của nơi cư trú, sự an toàn
và bí mật thư từ, điện thoại, điện tín; bất kỳ sự khám xét nào cũng phải tuân
theo quy định của pháp luật. [Kèm theo bài viết này là một số phần trích dẫn
các điều luật của Hiến pháp Việt Nam và Bộ luật Tố tụng hình sự].
Khám xét.
Điều 140 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định căn cứ cho việc khám người, nhà ở và
nơi cư trú khác, cũng như thư từ và bưu phẩm la` nghi ngờ rang công cụ hoặc
phương tiện phạm tội, là đồ vật do phạm tội mà có, các tài liệu và những gì
liên quan khác, hoặc những người bị truy nã có thể có mặt hoặc ở tại những nơi
đó.
Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự
: Việc khám xét yêu cầu phải có lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát, phó Viện
trưởng Viện kiểm sát, Chánh án hoặc Phó Chánh án của Tòa án, Thủ trưởng hoặc Phó
Thủ trưởng cơ quan điều tra ở tất cả các cấp (trong trường hợp nói trên, Viện
trưởng Viện kiểm sát phải phê chuẩn lệnh bắt trước khi thi hành, hoặc trong trường
hợp khẩn cấp, cần phải thông báo cho viện kiểm sát trong vòng 24 giờ sau khi
khám xét).
Điều 142 Bộ luật Tố tụng hình sự
: Việc khám người chỉ được tiến hành nếu người bị xét hỏi từ chối giao nộp đồ vật
theo yêu cầu và phải có lệnh khám được đọc to lên cho người đó nghe, trong lệnh
nêu rõ các quyền của người đó, việc khám người phải được thực hiện bởi người
cùng giới tính với người bị khám; khám người có thể thực hiện không có lệnh
khám, trong trường hợp một người đã bị bắt hoặc cơ quan có thẩm quyền có lý do
để tin rằng người có mặt tại nơi khám xét đang giấu đồ vật trong người.
Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự
: Việc khám chỗ ở phải được tiến hành với sự hiện diện của những người trưởng
thành trong gia đình hoặc đại diện của chính quyền địa phương và 2 người láng
giềng, và phải được tiến hành vào ban ngày, trừ khi có sự cần thiết không thể
trì hoãn, điều này phải được ghi vào biên bản; khám xét nơi làm việc phải có sự
hiện diện của người bị xét hỏi và người phụ trách ở đó; những người bị khám xét
không được rời khỏi nơi đó hoặc liên lạc với người khác cho đến khi việc khám
xét kết thúc. Thu giữ.
Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Thu giữ thư từ, điện báo, bưu kiện và vật phẩm khác tại bưu điện thì phải có lệnh
thu giữ của Trưởng hoặc Phó trưởng cơ quan điều tra, lệnh này phải được Viện
trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi
hành, trừ trường hợp việc thu giữ không thể trì hoãn, trong trường hợp đó thì
phải ghi rõ lý do vào biên bản và sau khi thu giữ phải báo ngay cho viện kiểm
sát. Đại diện của bưu điện phải giúp đỡ việc tiến hành thu giữ và là một nhân
chứng. Cơ quan thu giữ phải thông báo cho người có đồ vật bị thu giữ. Điều 145
Bộ luật Tố tụng hình sự: Việc thu giữ đồ vật và tài liệu liên quan đến vụ án
hình sự phải được lập biên bản, biên bản gồm 4 bản để giao cho chủ đồ vật, tài
liệu, đưa vào hồ sơ vụ án, gửi cho viện kiểm sát và giao cho cơ quan quản lý đồ
vật, tài liệu bị thu giữ. Đồ vật bị giữ phải được giao ngay cho cơ quan có thẩm
quyền, nếu cần thì đóng dấu niêm phong hoặc khóa lại trước sự chứng kiến của chủ
đồ vật hoặc những đại diện của gia đình và của chính quyền địa phương.
Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chỉ kê biên đối với tài sản là đối tượng của vụ án mà bị can, bị cáo phạm tội
có thể bị tịch thu tài sản hoặc bị phạt tiền, hoặc chịu trách nhiệm bồi thường;
tài sản bị kê biên phải là một phần trong tài sản bị tịch thu, của khoản tiền bị
phạt hoặc dùng để bồi thường; việc kê biên phải được tiến hành với sự có mặt của
đương sự, hoặc một người đã trưởng thành trong gia đình, đại diện của chính quyền
địa phương và người láng giềng chứng kiến; tài sản bị kê biên có thể giao cho
chủ tài sản hoặc họ hàng thân thích của người đó bảo quản; biên bản được lập
thành 3 bản: một bản được giao cho chủ tài sản, một bản gửi cho viện kiểm sát
và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Những người được giao bản quản tài sản bị kê biên không được huỷ bỏ niêm phong,
dùng, chuyển hoặc cất giấu tài sản, nếu làm như vậy thì phải chịu trách nhiệm
hình sự. Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự: Những người ra lệnh, thi hành lệnh
khám xét, thu giữ và kê biên tài sản trái pháp luật thì bị xử lý kỷ luật và chịu
trách nhiệm hình sự cũng như chịu trách nhiệm bồi thường dân sự.
(
Còn tiếp)
Các quyền của bị
can,bị cáo: (Tiếp theo)
THỰC TIỄN HOA KỲ.
Luật sư Tạ Văn Tài.
Sự phát triển lâu dài qua nhiều năm của luật
án lệ Hoa Kỳ về vấn đề Khám xét và Thu giữ là xuất phát từ Sửa đổi Hiến pháp số
4 trong Tuyên ngôn nhân quyền của Hiến pháp Liên bang, trong đó có quy định:
“Quyền con người được an toàn về thân thể, nhà ở, tài liệu, đồ vật, đối với việc
khám xét và thu giữ sẽ không bị vi phạm và không được ban hành lệnh xét và thu
trừ trường hợp có căn cứ thỏa đáng sau khi có lời khai tuyên thệ hoặc xác nhận
và miêu tả cụ thể nơi bị khám xét và người bị khám hoặc đồ vật bị thu giữ”.
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã cho rằng Sửa đổi
số 5 này áp dụng để khám xét/ thu giữ cũng như để bắt giữ/tạm giam.
Khi
áp dụng để khám xét và thu giữ, Sửa đổi số 5 đã đưa ra Quy tắc loại trừ trong
pháp luật hình sự: chứng cứ có được do việc khám xét và thu giữ bất hợp pháp sẽ
bị loại bỏ, hoặc không được chấp nhận trong trình tự tố tụng hình sự.
Nhưng quy tắc loại trừ này không thể áp dụng
[không có giá trị] đối với việc khám xét bởi các tư nhân, hoặc việc khám xét
trong các vụ án dân sự, thí dụ như việc trục xuất công dân trong pháp luật về
nhập cư. Ngoài ra, hiện có (1) ngoại lệ nếu có thành tín đối với quy tắc loại
trừ: quy tắc này không ngăn cấm việc sử dụng chứng cứ có được do các nhân viên
hành động một cách hợp lý dựa vào lệnh khám xét có giá trị về mặt hình thức mà
lệnh đó được ban hành bởi một thẩm phán công bằng và vô tư, nhưng khi dùng nó
thì cuối cùng mới phát hiện ra lệnh đó vô hiệu vì thiếu căn cứ xác đáng, và (2)
ngoại lệ về việc khám phá thế nào cũng không tránh được: nếu sau cùng công tố
viên có thể khẳng định rằng chứng cứ dù có được một cách trái pháp luật thì cuối
cùng cũng tìm ra được bởi các biện pháp hợp pháp, chứng cứ này có thể được chấp
nhận trong tố tụng - Vụ Nix kiện Williams,81 L.Ed.377(1984). [Lawyers’Edition
là tên Tuyển tập án lệ].
Luật sư hoặc tòa án thảo luận về hiệu lực
của việc khám xét sẽ tiến hành qua 4 hoặc 5 bước sau đây:
1. Trước tiên, có việc khám xét
không ? hoặc không hề có việc khám xét?
Tiêu chí để đánh giá được nêu ra trong bản
án Katz kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 389 US 347 (1967), án này đã bãi bỏ định nghĩa
việc khám xét theo ý nghĩa đồ vật, và đưa ra nguyên tắc là việc khám xét được
coi là bất hợp lý khi chính quyền vi phạm sự kỳ vọng chính đáng về chỗ riêng tư
của bị cáo [US –là tên tập án lệ của Tối cao Pháp viện Mỹ]. Trong vụ án này,
Tòa án đã vô hiệu hóa thiết bị điện tử theo dõi cuộc điện thoại của bị cáo
trong buồng điện thoại công cộng. Còn án Smith kiện Maryland, 442 US 736 (1979)
không có việc khám xét khi công ty điện thoại đưa cho cảnh sát những số điện thoại
mà bị cáo đã gọi, nhưng đã không ghi lại nội dung của các cuộc nói chuyện, bởi
vì các số đã gọi đều phải đưa cho công ty điện thoại kiểm soát khi thực hiện bất
kỳ cuộc gọi nào, vì vậy không có bí mật riêng tư nào trong thông tin này.
a) Những khu vực được bảo vệ với tính chất là bí mật riêng tư gồm có:
nhà ở, phòng khách sạn, văn phòng kinh doanh cá nhân hoặc các khu vực riêng của
cửa tiệm hoặc công ty, án Lanza kiện thành phố New York, 370 US 139,142 (1962).
Hàng hóa được để ở tiệm không làm cho tiệm
mất đi những tính cách riêng tư trong hàng hóa đó và không tránh được
yêu cầu phải có lệnh khám xét - án Công ty bán hàng Lo-Ji kiện thành phố New
York, 442 Hoa Kỳ 319 (1979). Nhưng cảnh sát có thể kiểm tra những cuốn sách
trưng bày có chủ ý dành cho khách hàng (không lục soát) và sau đó mua một số
văn hóa phẩm khiêu dâm (không có sự thu giữ mà là tự nguyện chuyển giao quyền sở
hữu) – Vụ Maryland kiện Macon, 86 L.Ed. 370 (1985). Các vấn đề khám xét khó
đánh giá như việc khám xét ga-ra, các khu vực của tòa chung cư có thể được giải
quyết bằng cách cân nhắc kỳ vọng riêng tư
của bị cáo về khu vực đó. Việc cất giấu máy truyền thanh trong
công-ten-nơ đã bán cho bị cáo để theo dõi việc đi lại của anh ta bằng ô-tô trên
xa lộ, sau đó đi theo về nhà riêng của anh ta, đó không phải là sự khám xét hoặc
bắt giữ, bởi vì đó chỉ là kỹ thuật cao để tăng cường giác quan của cảnh sát, vụ
Chính phủ Hoa Kỳ kiện Knotts, 75 L.Ed. 2d 55 (1983). Nhưng việc đặt máy nghe
trong nhà mà người chủ nhà có kỳ vọng hợp lý về chỗ riêng tư về nơi ở, chính là
việc khám xét bất hợp pháp, vi phạm chỗ riêng tư – Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện
Karo 82 L.Ed. 2d 530 (1984).
b)
Những khu vực/đồ vật không được bảo vệ, bao gồm:
(i) Cánh đồng, đường phố, lối đi bộ và
công viên. Không cá nhân nào được yêu cầu có sự riêng tư đối với các hoạt động
được thực hiện ở khung cảnh bên ngoài, ngoại trừ trong khu vực xung quanh trực
tiếp của khu nhà ở. Khu vực rừng và các khu cây xanh khác xung quanh ngôi nhà
có thể bị theo dõi từ không gian bên
ngoài- Vụ tiểu bang California kiện Ciraslo 90 L. Ed. 1986.
(ii) Các đồ vật, mặc dù trong khu vực được
bảo vệ (nhà ở, văn phòng, xe ô-tô), được “ nhìn thấy rõ ràng”, nghĩa là chúng
có thể được nhìn thấy từ một vị trí thuận lợi mà công chúng lui tới. Không bị coi
là khám xét nếu cảnh sát nhìn thấy những đồ vật bên trong xe ô-tô thông qua cửa
sổ kính, thậm chí dùng ánh sáng chiếu của đèn chớp chiếu vào bên trong xe – Vụ
Harris kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 390 US 234 (1968). Học thuyết “ nhìn thấy rõ
ràng” cũng được sử dụng để khám xét có hiệu lực đối với một đồ vật không liên quan đến tội phạm ở bên trong ngôi
nhà khi mà cảnh sát có mặt hợp pháp ở nơi cần khám xét theo lệnh, cho dù đồ vật
đó không được xác định cụ thể trong lệnh khám, Vụ Washington kiện Chrisman, 455
US 1 (1982); thí dụ, tìm kiếm ma tuý nhưng phát hiện ra hàng hóa bị ăn trộm hoặc
“nhìn thấy rõ ràng”. Tuy vậy, các đồ vật không được coi là nhìn thấy rõ nếu cảnh
sát phải sử dụng kính viễn vọng để nhận dạng chúng.
(iii) Những lời khai của bị cáo đối với
người mật báo và tình báo của cảnh sát, họ giả đò là bạn của bị cáo, không được
coi là có được nhờ khám xét, Vụ Hoffa kiện Chính phủ Hoa Kỳ 385 US 293 (1966).
(iv)
Chứng cứ có được bởi trát của tòa án, không phải do khám xét. Một lệnh của tòa
án về bằng chứng thể chất của hành vi phạm tội, chẳng hạn như tiếng nói hoặc mẫu
viết tay, nếu được ban hành bởi đoàn bồi thẩm đoàn, thì không phải là việc khám
xét hoặc thu giữ trong nội hàm của Luật
sửa đổi lần thứ 5 - Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Dionisio 410 US 1 (1973).
2. Liệu có lệnh khám xét theo thể
thức hợp lệ ?
Lệnh khám xét cho phép chỉ được khám xét
nơi chốn và con người được chỉ định trong lệnh đó. Lệnh khám xét một nhân viên
pha rượu và quán rượu không có nghĩa là cho phép khám xét các khách hàng. Lệnh
cần phải đáp ứng những yêu cầu về thủ tục thì mới có hiệu lực:
a)
Sự hiện diện cá nhân của người thi hành công vụ trước một phẩm phán công bằng
và vô tư (tòa án hoặc quan chức độc lập), người này quyết định liệu có căn
cứ thỏa đáng để ban hành lệnh – Vụ Johnson kiện Chính phủ Hoa Kỳ 333 US 10
(1948).
b)
Bản khai có tuyên thệ đưa ra những tình tiết và hoàn cảnh (chứng cứ) mà người cảnh
sát đưa vào để có lý do đủ hoặc căn cứ thỏa đáng để ban hành lệnh. Mặc dù
chứng cứ không cần đủ nhiều để kết án phạm tội (dựa trên căn cứ không còn hồ
nghi gì nữa) và có thể cũng chỉ là tin đồn, một lời khai của mật báo viên cần
được củng cố thêm bởi chứng cứ khác (ví
dụ như cảnh sát điều tra kết quả), theo lỗi xét “toàn bộ các tình huống” để quyết
định có căn cứ thỏa đáng hay không. Vụ tiểu bang Illinois kiện Gates 76 L.Ed.
2d 527(1983).
c) Nội dung của đơn yêu cầu có lệnh khám cần
được làm rõ đồ vật nào là đồ vật phải khám xét mà đã được sử dụng hoặc dự định
sử dụng vào việc phạm tội, rồi sau đó miêu tả rõ ràng về đồ vật và chỉ ra cụ thể
nơi chốn để khám xét. Việc khám xét toàn bộ khu chung cư là không có giá trị
- Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Hinton 219
F2d 326 (7th Gr. 1955). Đơn yêu cầu cần miêu tả rõ ràng về đồ vật bị khám xét.
Lệnh khám liệt kê quá nhiều đồ vật “bất kỳ kiểu và loại nào” (quá rộng) hoặc để
trống phần mô tả các đồ vật bị khám xét, thì sẽ bị vô hiệu- Vụ Công ty bán hàng
Lo-Ji kiện thành phố New York, 442 US 319 (1979).
d) Khám xét tài sản của bên thứ ba (đệ tam nhân).
Luật về bảo vệ chốn riêng tư năm 1980 đòi hỏi cảnh sát phải xin trát xuất trình
của tòa án để thể hiện tìm kiếm chứng cứ tội phạm nằm trong tay người thứ ba
nào không bị nghi ngờ có dính dáng đến hành vi phạm tội. Không cần có trát của
tòa án nếu việc thu giữ khẩn cấp là cần thiết để ngăn chặn chết người hoặc
thương tích nghiêm trọng, hoặc để ngăn chặn việc huỷ hoại, cất giấu hoặc đánh
tráo tài liệu.
e) Quyền dị nghị tính trung thực của bản khai
có tuyên thệ. Bị cáo có thể kiến nghị chứng cứ bằng cách tấn công vào tính
trung thực của bản khai kèm theo đơn yêu cầu có lệnh khám: (i) Bị cáo cần đưa
ra điều minh chứng cần thiết rằng bản khai này chứa đựng lời khai gian rõ rệt,
hoặc được viết bởi cách hết sức coi thường sự thật; (ii) Bị cáo cần chỉ ra rằng
thẩm phán cũng không tìm ra căn cứ thỏa đáng về những điểm nào của lệnh khám
còn lại, sau khi những phần sai sót đã bị xóa đi. Tại phiên tòa, nếu bị cáo có
thể chứng minh những điểm này, thì lệnh khám sẽ bị vô hiệu và mọi chứng cứ được
tìm thấy trong vụ khám xét đều không được thừa nhận – Vụ Franks kiện Delaware,
438 US 154 (1978).
3. Nếu không có lệnh khám, liệu có
ngoại lệ nào đối với yêu cầu cần có lệnh khám đó không? Nói cách khác, đây có
phải là trường hợp khám xét có hiệu lực mà không có lệnh ?
a) Trước hết, sự khám xét nhân việc bắt giữ hợp pháp là có hiệu lực.
Lý do về chính sách là cảnh sát thực hiện việc bắt giữ có quyền lục soát vũ khí
mà có thể gây hại cho anh ta và tìm kiếm chứng cứ mà bị cáo có thể tiêu huỷ.
Cũng như vậy, thông thường cảnh sát thực hiện việc bắt giữ không có thời gian để
có được lệnh bắt giữ. Tiêu chuẩn cho loại việc khám xét này, được hình thành
qua án Chimel kiện tiểu bang California, 395 US 752 (1969), đó là trong thời
gian tiến hành việc bắt giữ, hoặc ngay sau đó, cảnh sát được phép khám người của
bị cáo cũng như khám xét các khu vực ở ngay xung quanh người đó có thể được coi
là dưới sự kiểm soát của anh ta. Vì vậy, việc khám xét được thực hiện 90 phút
sau khi bắt giữ thì không được coi là nhân thể việc bắt giữ đó – Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Chadwick, 433
US 1 (1977). Việc bắt giữ hợp pháp vì vi phạm giao thông có thể cho phép khám
người toàn diện: người sử dụng xe có thể bị yêu cầu rời khỏi xe để việc khám
xét được dễ dàng hơn, cho dù không có dấu hiệu nghi ngờ giấu vũ khí hoặc hàng lậu
– Vụ Pennsylvania kiện Mimms, 434 US 106 (1977). Chỗ người ngồi trong chiếc xe
là ở trong sự kiểm soát của cá nhân; cảnh sát có thể khám xét toàn bộ chỗ ngồi
đó và bất kỳ hộp, gói trong đó dù đã đóng hoặc mở – Vụ Thành phố New york kiện
Belton 453 US 454 (1981).
b)
Tìm tòi sơ bộ: “lần tìm” hoặc vỗ nhẹ vào người để lục soát vũ khí để bảo vệ
sự an toàn cho cảnh sát. Việc khám xét này chỉ cần ít căn cứ thỏa đáng nhưng cần
phải có cơ sở hợp lý. Người cảnh sát dù không có quyền bắt giữ cũng có thể khám
xét hạn chế bằng cách lần tìm dọc khắp người đó xem có giấu vũ khí, nếu (đây là
chuẩn mực) một con người suy nghĩ hợp lý mà ở trong hoàn cảnh đó có thể tin rằng
người kia có giấu vũ khí và cần thiết phải gìn giữ an toàn cho bản thân mình và
những người khác- Vụ Terry kiện Ohio, 392 US 1 (1968). Cơ sở để người cảnh sát
tin rằng cũng có thể là tin đồn, có nghĩa là thông tin từ một người đưa tin
đáng tin cậy – Vụ Adam kiện Williams 407 US 13 (1972). Nếu vũ khí bất hợp pháp
được tìm thấy khi “lần tìm” thì có thể tiến tới việc bắt giữ và sau đó việc
khám xét kỹ toàn thân nhân thể việc bắt giữ đó (xem mục a ở trên). Mặt khác, việc
khám xét không thể được tiến hành đối với người nào chỉ đứng gần những người
khác bị nghi ngờ có hành vi phạm tội – Vụ Ybarra kiện tiểu bang Illinois, 444
US 85 (1979); và nếu không có cơ sở hợp lý cho sự nghi ngờ, thì chặn đường một
người trên phố và hỏi tên, địa chỉ của anh ta điều đó sẽ trở thành khám xét
trái pháp luật (vi phạm bí mật riêng tư)– Vụ Brown kiện tiểu bang Texas, 443 US
(1979). Chặn đường một cách hú họa để khám xét xe ô tô, tàu thuyền mà không
nghi ngờ tội phạm cũng là vi hiến, bởi lẽ làm thế là dành quá nhiều sự tuỳ tiện
cho nhân viên cảnh sát – Vụ Delaware kiện Prouse, 440 US 648 (1979). Trường hợp
ngoại lệ được đưa ra để khám xét một con tàu sắp đi ra khơi trong trường hợp vụ
án Chính phủ Hoa Kỳ kiện Villamonte- Marquez, 77 L.Ed.2d 22 (1983): các nhân
viên hải quan Hoa Kỳ, dù chọn lựa hú họa mà không có sự nghi ngờ, cũng có thể
chặn con tàu trong kênh dẫn ra biển để khám xét giấy tờ; tòa án cho là việc
khám xét này hợp lý, do khung cảnh vận tải bằng đường thuỷ khiến không thể sử dụng
các trạm kiểm soát cố định hoặc địa điểm chặn xét, sự phức tạp của hệ thống
đăng ký các tàu biển so với hệ thống đăng ký xe môtô và tầm quan trọng của mục
tiêu nhà nước trong việc bắt tuân thủ các việc đăng ký.
c) Khám xét trong lúc truy đuổi tức thì (hot pursuit).
Nếu cảnh sát nghi ngờ rằng một người có hành vi phạm tội và đuổi theo để bắt
anh ta, họ có quyền vào nhà riêng trong khi truy đuổi để khám xét nơi đó và tóm
lấy chứng cứ dù cho tư liệu đó là “ chứng cứ nhỏ” và không phải là hàng lậu hoặc
không phải là công cụ phạm tội –vụ Warden kiện Hayden, 367 US 294 (1967). Lý do
biện minh để khám xét không cần lệnh này không nhân thể việc bắt giữ, là việc
không thể nào xin được tờ lệnh trong khi tiến hành truy đuổi tức thì.
d)
Kiểm tra ở biên giới. Dù nghi ngờ một chút thôi, những nhân viên canh giữ
biên giới có thể thực hiện việc khám xét qua loa thân thể và đồ vật trên thân
thể của người đi qua biên giới. Việc khám xét kỹ hơn, chẳng hạn như lột quần
áo, đòi hỏi có sự nghi ngờ chắc chắn hơn. Đối với việc khám các khe hở trên
thân thể, thì cần phải có biểu hiện rõ ràng là nghi can giấu hàng lậu trong người,
án Henserson kiện Chính phủ Hoa kỳ, 390 F.2d 805 (9th Gr., 1967). Sau khi xem
xét mọi tình tiết về người du lịch và chuyến đi của cô ta, các nhân viên hải
quan có lý do để nghi ngờ rằng cô ta giấu hàng lậu trong đường tiêu hóa của cô
ta và tạm giữ cô ta 16 tiếng để chờ đến khi nó đại tiện ra hết, vụ Chính phủ
Hoa Kỳ kiện Montoya de Hernandez, 87 L.Ed 381 (1985).
- Việc khám xét không cần thực hiện ở biên
giới nhưng có thể được tiến hành tại trạm kiểm tra thuận tiện nào cách biên giới
một quãng. Khi xét xe ôtô xem có người nước ngoài đi lại bất hợp pháp không thì
nhân viên của trạm kiểm tra gần biên giới có quyền chặn xe ôtô để hỏi hành
khách vài câu, cho dù không có lý do để tin rằng xe đó chở người nhập cảnh bất
hợp pháp, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Martinez –Fuerte 428 US 543 (1976). Nhưng việc
khám xét xe ôtô một cách kỹ lưỡng tại trạm kiểm soát như vậy thì phải có căn cứ
thỏa đáng, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Brignoni-Ponce, 422 US 872 (1975).
- Dùng tuần hành lưu động để khám xét kỹ
xe ôtô (chặn tại chỗ khác các trạm kiểm soát) thì cần điều kiện chặt chẽ hơn:
phải có lệnh viết hoặc phải có căn cứ thỏa đáng- án Almeida-Sanchez kiến Chính
phủ Hoa Kỳ,413 US. 266 (1973). Còn nếu khám qua loa một xe ôtô thì cần có sự
nghi ngờ khác nữa ngoài sự kiện là các hành khách là người Mêhicô, vụ Chính phủ
Hoa Kỳ kiện Brignoni-Ponce, 422 US 872 (1975).
- Khám xét tại sân bay. Khám xét được tiến
hành theo quy định của luật pháp liên bang đối với hành khách vào khu vực để
lên máy bay cũng tương tự như khám xét ở biên giới và do đó không cần có lệnh
hoặc cơ sở thỏa đáng chừng nào việc đó chỉ giới hạn ở mục đích bảo vệ cho các
máy bay không bị tấn công bởi vũ khí và chất nổ. Một người có thể từ chối không
cho khám xét tại trạm kiểm tra sân bay bằng cách không đi vào khu vực cấm. Việc
dùng chó để “đánh hơi” không phải là khám xét, trừ việc tách rời hành lý khỏi
hành khách sẽ bị coi là việc “tạm giữ để điều tra” phải tuân theo các hạn chế của
Hiến pháp; việc tạm giam 90 phút bị coi là vô lý, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện
Jacobsen, 80 L.Ed.2d 85 (1984).
e)
Các đồ vật bị nhà nước thu giữ. Một chiếc xe ô tô bị cảnh sát thu giữ do lỗi
vi phạm đậu xe, về mặt lý thuyết, là có thể bị khám xét để kiểm kê như thường lệ
vì lý do là người chủ xe có một sự kỳ vọng về riêng tư ít hơn những đồ vật
trong chiếc xe đó so với đồ vật ở trong nhà anh ta, vụ South Dakota kiện
Opperman, 428 US 364 (1976). Đồ cá nhân bị cơ quan thu giữ lâu dài, chẳng hạn
như chiếc xe ô tô trong thủ tục tước quyền tài sản, cũng có thể bị khám xét, vụ
Cooper kiện tiểu bang California, 368 US 58 (1967). Tuy nhiên, phải lệnh khám
xét để xét tài sản đã bị khóa trong thùng xe đang bị cơ quan tạm giữ, trừ khi
có những tình huống cấp thiết, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Chadwick, 433 US
(1977). Chính phủ nắm giữ những cuốn phim khiêu dâm được giao nhầm chỗ nhận cũng
không tạo ra thẩm quyền để khám xét chúng, vụ Walter kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 447 US 649
(1980).
f) Việc khám xét xe ô tô. Khám xe ôtô mà không
có lệnh khám có thể được dựa trên một số
căn cứ: (i) Đồ vật đã “được nhìn thấy rõ”: đó không phải là khám xét; (ii) Khám
xét đi liền theo việc bắt giữ: nếu bị cáo đã bị bắt một cách hợp pháp, khu vực
nằm trong tầm kiểm soát của anh ta sẽ bị khám xét: thí dụ, khám xét chiếc xe
ôtô do cảnh sát thu giữ sau khi anh ta bị bắt hoặc sau khi tai nạn xảy ra, vụ Cady
kiện Dombrowski, 413 US 433 (1973); (iii) khám xé để kiểm kê tài sản thông thường:
như khi chiếc xe ô tô đã bị cơ quan thu giữ, vụ South Dakota kiện Opperman, 428
US 364 (1976). Nhưng việc khám chi li chiếc xe bị thu giữ lâu dài là vô hiệu, vụ
Coolidge kiện New Hamsphire, 403 US 43 (1971); (iv) Một chiếc xe ôtô đi qua
biên giới, hoặc qua nơi tương tự thì có thể khám kỹ lưỡng. Nếu chiếc xe có thể
được chuyển đi trước khi có được lệnh khám xét, và nhân viên kiểm tra có căn cứ
thỏa đáng, thì từng phần của chiếc xe và những gì chứa bên trong, thí dụ các
thùng hàng, gói hàng có thể bị khám , vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Ross, 4456 US
798 (1982); hoặc các thùng hàng có thể được chuyển đến một nhà kho và 3 ngày
sau mới mở ra khám, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện John, 83 L.Ed 890 (1985). Một chiếc
nhà xe di động đỗ tại bãi đậu xe thì sẽ thuộc trường hợp biệt lệ khám xét xe
không cần lệnh này, vì lý do là có căn cứ thỏa đáng, bởi vì cái nhà xe di động
này có thể đem chạy trên xa lộ.
g) Vấn đề an ninh quốc gia. Khi có vấn đề
an ninh quốc gia trong các quan hệ đối ngoại, việc mắc dây vào đường điện thoại
để nghe mà không xin lệnh cũng không bị cấm (Luật về theo dõi An ninh đối ngoại).
Còn nếu chỉ là theo dõi về an ninh trong nước, thì cần phải có lệnh của tòa cho
mắc dây vào điện thoại để nghe, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Tòa án Quản hạt Miền
đông Michigan, 407 US 297 (1972).
h)
Khám xét tại hiện trường vụ án. Không có bất kỳ biệt lệ chung nào về việc
miễn lệnh khám xét, bởi lẽ, một mặt tòa xử là cuộc khám xét hiện trường vụ cố
sát diễn ra trong 4 ngày mà không có lệnh là trái pháp luật (vụ Mincey kiện tiểu
bang Arizon, 437 US 385 (1978)), hoặc việc khám xét không có lệnh tại hiện trường
vụ cháy để tìm chứng cứ đốt nhà vài ngày sau khi xảy ra vụ cháy mà không có sự
đồng ý là bất hợp pháp, một mặt khác, tòa lại xử là có thể khám xét không có lệnh
hiện trường vụ cháy thực hiện ngay khi vụ cháy được dập tắt, hoặc 2- 3giờ sau
đó, vụ tiểu bang Michigan kiện Tyler, 436 US 499(1978), vụ tiểu bang Michigan
kiện Clifford, 78 L.Ed.2d 477 (1984).
i)
Việc khám xét trong tù. Một tù nhân không thể đòi hỏi có quyền kỳ vọng chỗ
riêng tư, vụ Hudson kiện Palmer, 82 L.Ed 393 (1984), và anh ta có thể bị xét
trong các lỗ hở trên thân thể và bị lục soát trong buồng, vì lý do an ninh, trật
tự nội bộ và kỷ luật, vụ Bell kiện Wolfish, 441 US 520 (1979). Nếu anh ta gọi
điện thoại từ trong tù, cuộc nói chuyện đó có thể bị ghi âm và theo dõi và chứng
cứ được phát hiện qua đó sẽ được chấp nhận.
k)
Các tình huống khẩn cấp. Nhiều trường hợp ngoại lệ được liệt kê ở trên về yêu cầu
có lệnh khám xét còn có thể được giải thích bằng một biện minh tổng quát hơn:
Được quyền khám xét không có lệnh bất cứ khi nào có sự e ngại hợp lý rằng nếu
trì hoãn tới khi có được lệnh thì sẽ làm hỏng kết quả của việc khám xét, án
Schmerber kiện tiểu bang California, 384 US 757 (1966) và án Winston kiện Lee,
84 L.Ed 662 (1985), sử dụng phương thức cân nhắc các yếu tố trong vụ kiện để đồng
ý bắt thử máu người lái xe, dù không có lệnh của tòa khi người này bị nghi ngờ
rằng lái xe trong tình trạng say rượu, nhưng lại vô hiệu hóa, theo tinh thần của
Sửa đổi thứ 5, lệnh bắt giải phẫu để lấy viên đạn khỏi ngực của kẻ bị tình nghi
để tìm kiếm chứng cứ, vì cho đó là xâm phạm nghiêm trọng lợi ích về chỗ riêng
tư và toàn vẹn thân thể.
l)
Việc khám xét hành chính là những trường hợp không cần theo thủ tục nghiêm ngặt
về lệnh khám. Thí dụ, việc khám xét những nơi ở bởi
thanh tra từ cơ quan giữ thẩm quyền phòng cháy, y tế, nhà đất hay cấp giấy phép
của thành phố không cần thiết phải có lệnh, mặc dù đó là lĩnh vực được điều chỉnh
bởi Sửa đổi Hiến pháp số 5. Khám xét trong trường hợp phải cấp cứu y tế không cần
có lệnh, vụ See kiện Seatle, 387 US 541 (1967). Việc khám xét không có lệnh
trong buồng kho đã khóa của một cơ sở bán vũ khí vốn là đối tượng cần phải xin
giấy phép hoạt động thì có giá trị, với điều kiện là việc khám xét như vậy được
thực hiện vào những thời điểm hợp lý – lý do là vì những vụ khám xét này đúng
lý là cần thiết để tiến hành những nhiệm vụ luật định của cơ quan có thẩm quyền
cấp phép, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Biswell, 406 US 311 (1972). Thường thì cuộc
thăm viếng định kỳ của một nhân viên xã hội đến nhà của người nhận tiền bảo trợ
xã hội không có nghĩa là cuộc khám xét, nhưng nếu có bị coi là khám xét thì việc
khám xét này được coi là hợp lý vì mục đích quản lý các chương trình của chính
phủ, vụ Wyman kiện James, 400 US 309 (1971). Việc khám xét của các nhân viên
trường công không cần phải có lệnh cũng như căn cứ thỏa đáng nhưng muốn hợp
pháp chỉ cần căn cứ tính cách hợp lý phải chăng xét theo mọi yếu tố của hoàn cảnh
(như là: có lý do để nghi ngờ rằng việc khám xét sẽ tìm ra chứng cứ, các biện
pháp khám tương ứng hợp lý với mục tiêu khám xét và không xoi mói quá đáng, vụ
New Jersey kiện T.L.O, 83 L.Ed 720 (1985) (khám tìm thuốc lá của các học sinh).
Các cuộc điều tra nơi làm việc do Sở Di dân để tìm những người nhập cư trái
phép và để hỏi về quốc tịch của người lao động thì không bị coi là bắt giữ lực
lượng nhân công, vụ I.N.S kiện Delgado, 80 L.Ed.2d 247 (1984).
Tuy
vậy, Cơ quan quản lý y tế và an toàn nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ cũng cần
có lệnh khám, dù rằng lệnh khám đó không cần có căn cứ thỏa đáng, bởi lẽ đã có
nhiều chuẩn mực hợp lý để tiến hành kiểm tra, vụ Marshall kiện Công ty của
Barlow, 436 US 307 (1978).
4. Liệu đây có phải là một cuộc
khám xét được người bị khám thỏa thuận?
Khi bị can đồng ý cho khám xét thì có thể
tiến hành khám xét mà không cần phải có căn cứ thỏa đáng hoặc không cần phải có
lệnh. Việc đồng ý phải tự nguyện, không đe dọa, cưỡng ép. Vì vậy, nếõáet toàn
thể các tình tiết trong hoàn cảnh khám thì chứng tỏ rằng sự thỏa thuận không bị
ép buộc, thì việc người đó thỏa thuận có giá trị, vụ Chính phủ Hoa kỳ kiện Wastson
423 US 411 (1976).
Nhưng nếu cảnh sát ập vào một nhà dùng quyền
để yêu cầu khám xét theo lệnh hoặc nếu không thì sẽ ép buộc chấp nhận cho khám
xét thì việc này sẽ không có hiệu quả, án Bumper chống North Carolina,391 US
543 (1968).
Sự đồng ý của người thứ ba: người thứ ba
cùng tham gia quản lý tài sản bị khám xét với bị đơn có thể chấp nhận cho khám
xét chỉ phần tài sản cùng quản lý nhưng không thể cho phép kiểm tra những phần
tài sản thuộc sự quản lý của riêng bị đơn (xem án Bumperghi trên). Tương tự như
vậy, chủ nhà không thể đồng ý cho khám xét căn phòng của người thuê mặc dù căn
phòng đó thuộc sở hữu của anh ta nhưng lại đang thuộc sự quản lý của người
thuê; chủ khách sạn không thể đồng ý cho khám xét phòng của khách trước khi
khách dọn ra khỏi phòng, án Chapman chống Hoa Kỳ,365 US 810 (1961). Cha mẹ có
thể đồng ý cho khám xét nhà nhưng không thể đồng ý cho khám xét đồ đạc đã khoá
lại của người con trên 18 tuổi, nếu không có sự đồng ý của con.
5. Hậu quả của việc khám xét bất hợp
pháp
Khám xét bất hợp pháp có thể dẫn tới việc
loại bỏ các bằng chứng (đồ đạc và các lời khai bằng miệng) đã được phát hiện
trong cuộc khám xét đó, cho dù một số bằng chứng đã tu được một cách hợp pháp,
án James chống Louisiana,382 US 36 (1965). Tuy nhiên, lời khai một cách tự nguyện
của người bị tình nghi không đi kèm sự bất hợp pháp nào trong khi khám xét hay
giam giữ tác động tới, thì cũng có thể
được chấp nhận, án Rawling chống Kentucky, 448 US 98 (1980). Nạn nhân biết về
hình dạng của bị can trước khi bị can bị bắt giữ một cách bất hợp pháp thì việc
biết đó không bị coi là sản phẩm của hành vi sai trai của nhà chức trách và vì
thế sẽ được coi là có giá trị cho việc xác định bị cáo tại toà, không bị dẹp bỏ,
Hoa Kỳ chống Crews,445 US 463 (1980).
Việc dẹp bỏ chứng cứ có được do khám xét bất
hợp pháp là một vấn đề pháp lý nảy sinh đầu tiên phải để cho thẩm phán xem xét
chứ không phải là vấn đề dành cho bồi thẩm đoàn xét định, và vì thế đa số các
toà án tiểu bang và liên bang buộc phải nộp một kiến nghị dẹp bỏ những chứng cứ
trước khi bồi thẩm đoàn nghe trình về chứng cứ.
Vì bị cáo phải tự mình chứng tỏ các quyền
của anh ta (không phải của một người khác) đã bị xâm phạm nên anh ta gặp phải
khó khăn khi phải chứng minh mình có tư cách đưa kiến nhị mà lại tránh nhìn nhận
tội. Ví dụ, nếu anh ta chứng minh tư cách đương tụng bằng cách khai rằng anh ta
có trong tay hoặc sở hữu vật đó thì cũng đồng thời anh ta đang nhận tội, trong
vụ Simmon chống Hoa Kỳ, 390 US377 (1968), Tòa án tối cáo giải thoát bị can khỏi
thế tiến thoái lưỡng nan bằng cách phán rằng lời khai lời khai của bị cáo để
thiết lập tư cách đương tụng của mình không được tham gia vụ án lúc xử như là bằng
chứng. Bị cáo cũng phải chứng tỏ rằng anh ta đã có sự kỳ vọng chính đáng về sự
riêng tư nơi bị khám xét. Vì thế, một bị cáo đã giấu ma tuý vào ví tiền của người
yêu của anh ta ngay trước khi khám xét sẽ bị từ chối tư cách đương tụng do
không có sự kỳ cọng chính đáng về chỗ riêng tư trong ví tiền của người yêu anh
ta, án Rawling chống Kentucky nói trên; một hành khách không có lợi ích về tài
sản trong chiếc xe ôtô hay các linh kiện của xe đã bị tịch thu thì anh ta không
thể phản đối việc khám xét xe.
Dù rằng công tố viên không thể dùng những
bằng chứng đã bị tịch thu một cách bất hợp pháp để kết tội bị cáo về mặt tội
danh, bằng chứng này vẫn có thể bị sử dụng để nghi ngờ độ tin cậy của lời anh
ta khai ra trong buổi thẩm vấn hay đối chất.
II. Bắt, tạm giam và các biện pháp
ngăn chặn khác
Điều 71 Hiến pháp Việt Nam tuyên bố quyền
bất khả xâm phạm thân thể của công dân, công dân không thể bị bắt mà không có
quyết định của toà án hay viện kiểm sát trừ phi phạm tội quả tang; việc bắt và
giam giữ phải phù hợp với pháp luật. Điều72 Hiến pháp Việt Nam quy định rằng nạn
nhân của việc bắt và giam giữ trái phép có quyền đòi bồi thường và phục hồi
danh dự, trong khi đó cơ quan vi phạm pháp luật trong quá trình bắt, tạm giam,
truy tố và xét xử sẽ bị xử lý. Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự bảo đảm cho công
dân được quyền an toàn về thân thể bằng cách khẳng định nguyên tắc đã quy định
tại Hiến pháp Việt Nam rằng không ai có thể bị bắt mà không có quyết định của
toà án hoặc quyết định của viện kiểm sát hay quyết định được Viện kiểm sát phê
chuẩn trừ phi phạm tôi quả tang. Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình quy định rõ hơn ý
nghĩa thứ 2 của việc bảo đảm an toàn thâ thể như sau: bất kỳ sự cưỡng bức hay
tra tấn nào cũng bị cấm đoán một cách nghiêm ngặt. Điều 7 Bộ Luật tố tụng hình
sự (BLTTHS) cũng liên quan tới những quy định về việc bắt và giam giữ bởi vì điều
đó quy định nguyên tắc pháp luật bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ, danh dự (và tài sản)
của công dân.
Những nguyên tắc cơ bản trên được áp dụng
như thế nào trong quá trình bắt, tạm giam và sử dụng các biện pháp ngăn chặn
khác?
Đầu tiên, về căn cứ bắt giữ, tạm giam, Điều
7 BLTTHS quy định rằng căn cứ để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án áp dụng
các biện pháp ngăn chặn khác nhau như bắt giữ, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lãnh, đảm bảo bằng tiền, tài sản để bảo đảm như sau: là có cơ sở
để tin rằng bị can hoặc bị cáo sẽ cản trở việc điều tra, truy tố tội phạm hoặc
có thể sẽ tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, Điều 94(2) BLTTHS cũng quy định rằng nếu
các biện pháp này thấy không cần thiết nữa thì cơ quan điều tra, kiểm sát và
toà án sẽ huỷ bỏ.
Bắt giữ
Có
3 trường hợp bắt giữ, trong đó quy định khác nhau về những người hay cơ quan có
thẩm quyền ra lệnh bắt hay thẩm quyền bắt.
1. Việc bắt giữ bị can, bị cáo. Điều 80 BLTTHS quy định
những người có thẩm quyền ban hành lệnh bắt giam gồm: Viện trưởng viện kiểm sát
hay Phó Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự các cấp;
Chánh án và phó chánh án của TAND và toà quân sự các cấp; chánh toà, phó chánh
toà Phúc thẩm của Toà án tối cao; Trưởng và phó trưởng các cơ quan điều tra các
cấp. Tuy nhiên, các cơ quan điều tra thường được hiểu là cơ quan cảnh sát, phải
có lệnh bắt do viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành lệnh bắt. Lệnh
bắt giữ phải được người có thẩm quyền ban hành lệnh ký tên và đóng dấu và phải
viện dẫn lý do bắt giữ. Người thi hành lệnh bắt phải đọc to lệnh cho người bị bắt
nghe và phải giải thích lệnh, giải thích quyền và trách nhiệm của người đó. Việc
bắt giữ phải có sự chứng kiến của chính quyền địa phương, nếu bắt tại nhà thì
phải có sự chứng kiến của láng giềng của người đó [giống như một nguyên tắc của
cổ luật]; nếu bắt giữ tại nơi làm việc thì phải có sự chứng kiến của người phụ
trách của người đó. Việc bắt người không được tiến hành vào ban đêm trừ trường
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.
2. Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Theo Điều 81 BLTTHS: Khẩn cấp nghĩa là có cơ sở để tin rằng một người đang chuẩn
bị phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, hoặc có người tận mắt
chứng kiến tội phạm và nhận ra thủ phạm, và việc bắt giữ này là cần thiết để
tránh việc bỏ trốn hay huỷ hoại tang chứng. Người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp
là: Trưởng hay phó trưởng cơ quan điều tra các cấp, sĩ quan chỉ huy biệt đội
quân sự cấp vùng, người chỉ huy đơn vị an ninh biên giới, người chỉ huy máy bay
hay tàu thuyền khi đng rời sân bay, bến cảng. Việc bắt người trong trường hợp
khẩn cấp phải được nhanh chóng báo cáo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp
phê chuẩn (dù là phê chuẩn sau khi đã bắt). Trong vòng 12 giờ, viện kiểm sát phải
quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp không
phê chuẩn thì người bị giam giữ phải được thả ngay lập tức.
3.
Việc bắt người phạm tội quả tang hay ngươi đang bị truy nã. Theo Điều 82
BLTTHS: Bất kỳ công dân nào cũng có thể bắt, tước đoạt vũ khí của người đang
trong quá trình phạm tội, bị truy đuổi gấp sau khi phạm tội hoặc bị truy nã và
dẫn giải tới cơ quan cảnh sát, viện kiểm sát hay uỷ ban hành chính nơi gần nhất.
Các cơ quan này phải làm biên bản bắt giữ và chuyển gấp người bị bắt tới cơ
quan điều tra thích hợp.
Điều
84 BLTTHS: Người tiến hành bắt phải làm biên bản bắt giữ (ghi ngày tháng, địa
điểm bắt, những hành động đã thực hiện, các vấn đề xảy ra, đồ vật và tài liệu bị
tịch thu, đề nghị của người bị bắt) và đọc to cho người bị bắt và những người
có mặt nghe; tất cả mọi người phải ký tên, ghi lại ý kiến phản đối nếu có. Nếu
người bị bắt phải chuyển giao cơ quan khác thì phải làm biên bản chuyển, trong
đó có ghi những điểm trên và các chi tiết khác như những lời khai, tình trạng sức
khoẻ của người bị bắt.
Điều
83 BLTTHS: Những công việc mà các cơ quan điều tra phải tiến hành ngay
không được trì hoãn sau khi nhận người bị bắt là: trong trường hợp bắt người phạm
tội quả tang hoặc bắt người trong tình trạng khẩn cấp thì phải kèm theo một bản
khai và trong vòng 24 giờ phải có lệnh tạm giam hoặc phải trả tự do; trường hợp
bắt người bị truy nã thì phải có một bản khai và gửi một bản thông báo cho cơ
quan đã ban hành lệnh truy nã để yêu cầu cơ quan đó tới nhận người bị bắt. Sau
khi nhận người bị bắt, cơ quan ra lệnh truy nã phải đình chỉ lệnh truy nã. Nếu
cơ quan này không thể đến nhận người bị bắt được thì cơ quan điều tra phải
nhanh chóng ra lệnh tạm giữ và thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã, và cơ
quan truy nã phải nhanh chóng ban hành lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam cho
cơ quan điều tra cùng cấp sau khi đã được viện kiểm sát phê chuẩn để đưa người
bị bắt vào nhà giam.
Điều
85 BLTTHS: Người ra lệnh bắt và cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải
nhanh chóng thông báo cho gia đình người bị bắt và cơ quan chính quyền nơi người
đó sống và làm việc.
Tạm giữ
Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và trường hợp
phạm tội quả tang, người thú tội hay ra đầu thú sẽ bị tạm giữ theo lệnh tạm giữ
của thủ trưởng hay phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp, người chỉ huy biệt
đội quân sự cấp vùng, người chỉ huy an ninh biên giới, cảnh sát biển và người
chỉ huy máy bay tàu thuyền khi máy bay, tàu thuyền đang rời sân bay/bến cảng.
Điều 86 BLTTHS: Các lệnh bắt giữ (phải
gửi một bản sao cho người bị bắt) phải giải thích các quyền và trách nhiệm của
người bị bắt, lý do bắt giữ và phải được chuyển cho viện kiểm sát cùng cấp
trong vòng 12 giờ đề phê chuẩn ; nếu không có lý do bắt giữ thì phải hủy lệnh tạm
giữ và thả người bị bắt ngay lập tức.
Thời
gian tối đa cho việc tạm giữ là 3 ngày, có thể được gia hạn nếu cần thiết nhưng
không quá 3 ngày nữa và trong trường hợp đặc biệt thì có thể gia hạn thêm 3
ngày nữa. Những lần gia hạn phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn hoặc bác
bỏ (nếu không có cơ sở tiến hành truy tố tội). Những ngày tạm giữ này sẽ được
tính vào giai đoạn tạm giam để điều tra (Điều 87 BLTTHS).
Chế độ cai quản người bị tạm giữ và sau đó
bị tạm giam khác với nhà tù sau khi đã có về khía cạnh điều kiện sinh sống, việc
tiếp xúc và nhận quà của gia đình…(Điều 89 BLTTHS).
Cơ quan ra lệnh tạm giữ hoặc tạm gian phải
bố trí việc chăm sóc trẻ em dưới 14 tuổi, người tà tật hoặc người thân già/yếu
của người bị tạm giam, tạm giữ bằng cách giao họ cho người thân, nếu không có
người thân thì giao cho chính quyền địa phương và sắp xếp việc bảo quản tài sản
của người bị tạm giữ nếu không còn ai chăm sóc và sau đó thông báo cho người bị
bắt giữ về việc này (Điều 90 BLTTHS).
Tạm giam (trong quá trình điều tra)
Điều 88 Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Tạm giam
có thể được áp dụng cho trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm tội
rất nghiêm trọng, hoặc ngay cả phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng
mà có hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Những người
không bị tạm giam và được áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế (xem dưới
đây) bao gồm phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, người
già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng. Nhưng ngoại trừ này sẽ không
áp dụng cho người đã bỏ trốn và bị bắt lại theo lệnh truy nã hoặc người được áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở
nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc người phạm tội xâm phạm
an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam họ thì sẽ gây nguy
hại đến an ninh quốc gia.
Những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam
cũng chính là những người có thẩm quyền ra lệnh bắt giữ được quy định tại Điều
80 BLTTHS. Việc Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc từ chối lệnh tạm giam của Cơ quan
điều tra, trong vòng 3 ngày, cũng được quy định tương tự như vậy. Cơ quan ra lệnh
tạm giam phải đồng thời thông báo cho gia đình người bị tạm giam và cho chính
quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc.
Điều
120 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về thời hạn tạm giam để điều tra: 2
tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Cơ
quan điều tra có thể đề nghị Viện kiểm sát cho phép gia hạn thời hạn tạm giam đối
với vụ án phức tạp cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có
căn cứ để huỷ bỏ biện pháp tạm giam: gia hạn một lần không quá một tháng đối với
tội phạm ít nghiêm trọng; gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và
lần thứ hai không quá một tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; gia hạn hai lần,
lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng đối với tội phạm
rất nghiêm trọng; gia hạn ba lần, mỗi lần không quá một tháng đối với tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng (ở đây có sự mâu thuẫn không: tổng cộng là 7 tháng nếu so
với tổng cộng 9 tháng về tội phạm rất nghiêm trọng?). Viện kiểm sát cùng cấp với
cơ quan điều tra đang tiến hành giải quyết vụ việc (cấp quận, tỉnh hay trung
ương) có quyền gia hạn thời gian tạm giam với một số thay đổi, tùy theo đó là tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng hay lần gia hạn thứ ba. Trong một số vụ án cụ thể liên quan đến an
ninh quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể kéo dài thời hạn
tạm giam thêm một lẫn nữa nhưng không được quá 4 tháng. Nếu tạm giam không cần
thiết nữa, Cơ quan điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để
trả tự do cho người bị tạm giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Khi đã
hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm
giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Lưu
ý là trong Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn điều tra/gia hạn điều tra
có khác chút ít so với thời hạn tạm giam để chờ điều tra: 2+2 tháng cho tội phạm
ít nghiêm trọng; 3+3+2 tháng cho tội phạm nghiêm trọng; 4+4+4 tháng đối với tội
phạm rất nghiêm; 4+4+4+4 tháng cho tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nhưng Bộ luật
Tố tụng hình sự có khoản 6 về bảo vệ quyền của bị đơn: Khi đã hết thời hạn điều
tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra
phải ra quyết định đình chỉ điều tra. Nếu vụ việc đã được đình chỉ thì các biện
pháp ngăn chặn, kể cả tạm giam, phải được huỷ bỏ- Điều 94 (1)
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, việc điều tra có thể lại được thực hiện
theo danh nghĩa phục hồi điều tra, điều tra bổ sung và điều tra lại. Bộ luật Tố
tụng hình sự Điều 121. Không bị can nào lo lắng gì nhiều về sự kéo dài này của
quá trình điều tra nếu nó không ảnh hưởng đến quyền tự do của họ. Nhưng các thủ
tục này có thể đưa ra những thời hạn tạm giam khác không? Tuy khoản 6 Điều 121
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cơ quan điều tra có thể bãi bỏ các biện pháp
ngăn chặn (bao gồm cả giam giữ), cũng nói là nếu không có lý do để tiến hành biện
pháp tạm giam thì việc tạm giam và gia hạn tạm giam kèm theo thủ tục phục hồi
điều tra và điều tra bổ sung sẽ không vượt quá: (a) đối với phục hồi điều tra:
2 tháng cho tội phạm ít nghiêm trọng; 3+2 tháng cho tội phạm nghiêm trọng và rất
nghiêm trọng; 3+3 tháng cho tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (b)đối với điều tra
bổ sung theo yêu cầu của Viện kiểm sát: 2+1 tháng.
THỰC TIỄN CỦA HOA KỲ TRONG VIỆC BẮT
GIỮ VÀ TẠM GIAM.
Các chuẩn mực hiến định có thể được áp dụng
cho việc bắt giữ và tạm giam xuất phát từ Sửa đổi Hiến pháp số 4 về khám xét và
bắt giữ (đã được nói ở trên) và Sửa đổi Hiến pháp số 5 của Hiến pháp Hoa Kỳ mà
một phần quy định như sau: "Không ai bị buộc phải trả lời về một tội tử
hình hoặc một sự vi phạm nghiêm trọng khác, trừ khi đứng trước Đại đoàn bồi thẩm
đã ra lệnh truy tố; cũng như sẽ không bị buộc phải làm chứng chống lại bản thân
mình trong bất kỳ vụ án hình sự nào…"
Chuẩn mực trong Sửa đổi Hiến pháp số
5
Quyền
không phải đưa ra tuyên bố tự buộc tội quy định trong Sửa đổi số 5 đã được minh
họa cụ thể trong án Miranda (năm 1966), án này yêu cầu những viên chức bắt giữ
phải nói với người bị tình nghi mà họ định bắt giữ những từ sau hoặc những từ
tương tự như vậy: “Anh có quyền im lặng. Bất kỳ lời khai nào của anh sau này đều có thể được sử dụng để chống lại
anh trước toà. Anh có quyền nhờ luật sư và nếu anh không thể thuê được luật sư
thì anh sẽ có một luật sư theo chỉ định nếu anh muốn vậy”.
Quyền im lặng có nghĩa là không phải nói
gì, khi bị bắt và sau đó, khi bị tạm giam và chính thức bị truy tố, để chứng
minh mình vô tội và gánh nặng dẫn chứng được chuyển sang cho Nhà nước hoặc công
tố. Ngược lại, có thể cho rằng bất kỳ hệ thống tố tụng hình sự nào mà quy định
gánh nặng dẫn chứng trong truy tố hình sự là Nhà nước phải gánh lấy và bị can
không có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh sự vô tội của mình, thì hệ thống tố
tụng ấy theo lo- gic, phải chấp nhận quyền im lặng, đặc biệt là nếu có quy định
cấm sự tra tấn và ép cung.
Sau
đây, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết thêm về quyền có luật sư được tuyên bố vào
thời điểm bị bắt và bắt đầu bị tạm giam, như trong lời báo trước của vụ
Miranda, cũng như quyền có luật sư biện hộ trong tất cả các giai đoạn của thủ tục
tố tụng hình sự, dựa trên Sửa đổi số 6 Hiến pháp Hoa Kỳ mà trong đó quy định:
"Trong mọi thủ tục truy tố hình sự, người bị bắt có quyền được xét xử công
khai, mau chóng và có sự giúp đỡ của luật sư để bảo vệ cho mình ".
Chuẩn mực trong Sửa đổi Hiến pháp số
4
Các
quy tắc được luật của các tiểu bang phát triển qua nhiều năm từ những chuẩn mực
hiến pháp liên bang ghi trong Sửa đổi số 4, là những quy tắc sau:
a) Việc bắt giữ mà có lệnh có hiệu lực là
hợp lý và có giá trị theo cả Hiến pháp Hoa Kỳ và pháp luật tiểu bang. Trong trường
hợp bắt ở nhà, cho dù có lệnh bắt giữ thì hầu hết các tiểu bang đều yêu cầu
nhân viên cảnh sát thông báo mục đích trước khi vào nhà; nếu không làm như vậy
thì sẽ làm cho lệnh bắt không có giá trị. ở đây có ngoại lệ đối với yêu cầu này
là trong trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn trong trường hợp có căn cứ thỏa đáng là
tội phạm về bạo lực, người bị tình nghi có vũ khí và tin rằng đang ở trong nhà
và có thể sẽ bỏ trốn nếu không bắt.
b) Việc bắt giữ không có lệnh có giá trị cả
theo thông pháp và luật thành văn tiểu bang. (i) Theo thông pháp và theo Sửa đổi
số 4, cả cảnh sát và cá nhân nào đó đều có quyền bắt không cần lệnh đối với
hành vi trọng tội được thực hiện trước sự chứng kiến của họ (phạm tội quả
tang), hoặc đối với tội nhẹ hơn nhưng vi phạm đó gây ra mất trật tự ngay trước
mắt họ, vụ US kiện Watson, 423 US 411 (1976) (Như vậy, một khinh tội nhưng
không gây mất trật tự, cho dù là được thực hiện có sự chứng kiến của cảnh sát
thì việc bắt giữ vẫn cần có lệnh) (ii) Theo luật thành văn tiểu bang, hầu hết
các tiểu bang cho phép cảnh sát, và ở một số tiểu bang, cá nhân có quyền bắt
không cần lệnh cả đối với trọng tội và khinh tội được thực hiện trước mắt họ
cho dù nó có xâm hại đến trật tự trị an hay không. Hơn nữa, đối với trọng tội
được thực hiện không có sự chứng kiến, thì cảnh sát vẫn có quyền bắt người mà cảnh
sát có cơ sở để tin rằng người đó đã thực hiện trọng tội này, trong khi cá nhân
có thể bắt về một trọng tội chỉ khi nào tội phạm đó thực sự đã được thực hiện
trên thực tế và anh ta có lý do hợp lý để tin rằng người này có tội.
Tiêu chuẩn hiến định cho việc bắt giữ
không cần lệnh là căn cứ thỏa đáng. Toà án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố nguyên tắc
chung này đối với việc bắt không cần lệnh: tại thời điểm bắt, cảnh sát cần phải
có căn cứ thỏa đáng, nói một cách khác, sau khi người cảnh sát biết do tự mình
hoặc qua người cung cấp tin, cảnh sát thấy các thông tin về sự việc và hoàn cảnh
tại thời điểm bắt là đáng tin cậy và đủ để một người cẩn thận tin rằng bị can
đã thực hiện hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội, vụ Draper kiện Chính phủ Hoa
Kỳ 358 US 307 (1959).
Thời gian và địa điểm bắt cũng ảnh hưởng tới
hiệu lực của việc bắt giữ cho dù có căn cứ thỏa đáng để bắt giữ. Việc bắt không
cần lệnh trong thời gian ban ngày và ở nơi công cộng được công nhận, vụ Chính
phủ Hoa Kỳ kiện Watson, 423 US 411 (1976). Việc bắt không cần lệnh tại nhà của
bị can trong sự truy đuổi tức thì cũng được công nhận, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện
Santana 427 US 38 (1976). Việc bắt giữ thông thường mà không có lệnh thì không
có giá trị, thậm chí đối với cả trọng tội nhưng vào nhà người bị tình nghi
không được sự đồng ý, vụ Payton chống lại New York, 445 US 573 (1980).
Giải thích thế nào là việc bắt giữ, Toà án
Tối cáo trong án Sở Di dân kiện Delgado 466 US 1984 cho rằng việc “dừng” một
người lại để xem xét nhận dạng thì không phải là bắt hoặc tạm giam theo Sửa đổi
số 4. Nhưng nếu một người từ chối không nói mình là ai và sau đó cảnh sát cho
biết anh ta không được tự do bước rời đi thì đó là bắt giữ và tạm giam, vụ
Brown kiện bang Texas 433 US 1979.
Việc bắt giữ/tạm giam để lấy thông tin phải
có cơ sở thỏa đáng và phải tạm thời, không lâu hơn thời gian cần thiết để kiểm
tra hoặc loại bỏ sự nghi ngờ. Do đó, khi người bị nghi ngờ vận chuyển ma tuý,
cho dù bị xét hỏi hợp pháp trong đám đông tại sân bay, bị đưa tới cơ quan công
an cách xa 40 feet mà không có căn cứ thỏa đáng thì sẽ là việc bắt giữ bất hợp
pháp - vụ Florida kiện Roger 469 US 491 (1983). Cũng là việc giam giữ trái pháp
luật nếu chuyên chở khi chưa có căn cứ thỏa đáng, một người bị nghi ngờ tới cơ
quan công an để lấy dấu tay mà không được sự đồng ý của người này (dấu tay của
người này sẽ được bỏ đi do không được thừa nhận trong vụ án)- vụ Hayes kiện
Florida, 84 L.Ed. 705 (1985). Việc sử dụng vũ lực có thể gây chết người trong
việc bắt giữ một người bị tình nghi phạm trọng tội mà người đó không có vũ khí
là việc bắt giữ người không hợp lý theo Sửa đổi Hiến pháp số 4, nếu việc làm đó
là không cần thiết để ngăn chặn sự bỏ trốn và cảnh sát không có căn cứ thỏa
đáng để tin rằng người bị tình nghi có thể đe doạ tính mạng hoặc gây thương
tích nghiêm trọng cho nhân viên cảnh sát hoặc người khác, vụ Tennessee kiện
Garner, 85 L.Ed. 1(1985).
Tuy nhiên, những trường hợp tạm giam sau
đây là có hiệu lực. Tạm giam 20 phút đối với một người bị nghi ngờ buôn bán ma
tuý, lý do là vi hành vi lảng tránh của người đó, thì không phải là bất hợp lý.
Toà án xem xét thời gian ngắn của việc tạm giữ, mục đích của việc tạm giữ, thời
gian hợp lý phải chăng nào dễ đưa tới sự xác định hoặc loại bỏ mối nghi ngờ một
cách nhanh chóng không, và sự chuyên cần trong việc thực hiện những cách thức
này, án Hoa Kỳ chống lại Sharpe 84 L.Ed. 605 (1985). Toà án công nhận việc tạm
giữ trong thời gian ngắn một người bị tình nghi (dựa trên lệnh “truy nã”) là đã
có sự liên hệ với trọng tội đã xảy ra mà có thể gây ra sự đe doạ tới an ninh
chung- án Hoa Kỳ chống Hensley, 469 US 1985.
Thời hạn cho việc bắt giữ và tạm giam
trong thủ tục tư pháp cồng kềnh của Mỹ thì đã hàm chứa trong chuẩn mực hiến định
về “Quyền được xét xử nhanh” trong Sửa đổi số VI Hiến pháp Hoa Kỳ. Bị can được
bảo đảm xét xử trong thời hạn hợp lý. Chuẩn mực hiến định này được áp dụng cho
các toà án tiểu bang theo Điều khoản Diễn tiến phải theo của Sửa đổi Hiến pháp
số 14. Khi có vi phạm quyền của bị can về xét xử nhanh chóng thì phải bác bỏ
hoàn toàn các cáo buộc chống lại anh ta, vụ Strunk kiện Chính phủ Hoa Kỳ 412 US 434 (1973). Sở thuế đã kiện tổ chức
chính trị của một số Việt kiều hải ngoại có tên Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải
Phóng Việt Nam đã có hành vi thu tiền bất hợp pháp trong cộng đồng người Việt ở
Hoa Kỳ và tội trốn thuế, nhưng bởi vì Sở thuế đã chậm trễ trong việc truy tố
cho nên vụ kiện những anh/em của người sáng lập và những người khác điều hành
các tổ chức tài chính của Mặt Trận đã bị Toà án bãi bỏ.
Chỉ khoảng thời gian trôi qua mà thôi thường
là không đủ và thông thường việc chậm trễ trong vòng 6 tháng thì không có vấn đề
gì. Quá 6 tháng, những yếu tố khác cần được cân nhắc trong một cuộc đắn đo cân
nhắc để đánh giá liệu quyền được xét xử nhanh chóng có bị vi phạm hay không do
việc tạm giam dài, án Barker v. Wingo, 407 US 514 (1972) liệt kê ra các yếu tố
cần được xem xét: (1) khoảng thời gian chậm trễ, (2) lý do chậm trễ, (3) sự đòi
hỏi của bị can đối với quyền được xét xử, (4) thiệt hai đối với bị can, bao gồm
việc tạm giam ngột ngạt trước khi xét xử, việc anh ta lo lắng là các người làm
chứng của anh ta sẽ chất hoặc biến mất hoặc không còn nhớ câu chuyện. Toà án sẽ
cân nhắc những lý do chậm trễ và xác định xem liệu cơ quan Nhà nước có “ nỗ lực
một cách chăm chỉ và thiện ý” để đưa bị can ra xét xử. Trong vụ Barker, phiên
xét xử đã bị trì hoãn trong 5 năm sau khi bị can bị bắt. Bên công tố xin đình
hoãn nhiều lần nhưng bị can không phản đối mà cũng không đòi quyền được xét xử
nhanh, cho đến 3 năm rưỡi sau khi bị bắt
thì mới nêu vấn đề. Toà án nhận thấy không có sự tổn hại nghiêm trọng cho bị
can, người đó có vẻ như không muốn được xét xử nhanh.
Thời gian để có quyền được xét xử nhanh bắt
đầu tính từ ngày người đó bị coi là “bị cáo”, với bản cáo trạng hoặc một hình
thức khác; và do vậy thời hạn của việc xét xử nhanh không được gồm thêm cả thời
gian trước khi bị bắt. Viện công tố có thể cứ từ từ tiến hành điều tra, khám
phá bằng chứng và khởi tố vụ kiện.
Các biện pháp thay thề cho tạm
giam: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh và bảo đảm bằng tiền
-Cấm đi khỏi nơi cư trú. Điều 91 Bộ luật Tố tụng
hình sự: Thay cho tạm giam, những người có quyền bắt và tạm giam một người có
thể đưa ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (buộc ở tại nhà), nếu bị can, bị cáo có
nơi cư trú rõ ràng và nộp đơn cam kết không rời khỏi nơi cư trú (trừ khi được
phép rời nơi cư trú tạm thời có lý do chính đáng) và sau đó trình diện tại nơi
được quy định trong giấy triệu tập. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở địa phương
nơi người này cư trú sẽ được thông báo và giao cho quyền giám sát và quản lý việc
cấm đi khỏi nơi cư trú. Việc vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ phải chịu
hình phạt.
-Bảo
lãnh. Điều 92 Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ vào tội danh và mức độ trầm
trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, người này có thể được
bảo lãnh bởi hai người họ hàng có đạo đức tốt và ý thức chấp hành pháp luật hoặc
do lãnh đạo cơ quan, tổ chức nơi người này làm việc, đảm bảo rằng người này sẽ
không tiếp tục phạm tội và sẽ có mặt theo giấy triệu tập. Cơ quan có thẩm quyền
bắt và tạm giam thì cũng có quyền quyết định chấp nhận việc bảo lãnh thay cho
việc tạm giam.
-Bảo
đảm bằng tiền. Điều 93 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Thay cho việc tạm giam việc
bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản có thể được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận sau
khi cân nhắc tội danh và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và
tài sản của bị can, bị cáo. Bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản sẽ bị tịch thu nếu
người này vắng mặt không có lý do chính đáng và người đó bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn khác. Còn nếu không có chuyện gì, tiền và tài sản này sẽ được trả lại
sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ.
Thực tiễn Hoa Kỳ về các biện pháp
thay thế tạm giam: quản chế và bảo đảm bằng tiền
Trong khi chờ đợi được xét xử, toà án Mỹ
cũng có những biện pháp thay thế tạm giam, (1) để tiết kiệm chi phí ăn ở của tù
nhân đã lên quá cao trong các nhà tù của tiểu bang và liên bang (Hoa Kỳ là nước
có tỷ lệ tù nhân cao nhất trong các nước phát triển); và đồng thời (2) để kiểm
soát sự đi lại của bị can và để đảm bảo người này sẽ có mặt ở toà cho các thủ tục
tố tụng.
Kiểm soát do Phòng quản chế của toà
án
Trong thời gian tiền xét xử, việc cấm đi
khỏi nơi cư trú chỉ là một trong nhiều biện pháp được dùng để kiểm soát bị cáo
khi chưa xét xử. Bởi vì hệ thống xã hội của Hoa Kỳ tôn trọng quyền tự do đi lại
và mong muốn bị cáo tiếp tục làm việc và làm một thành phần có sản xuất trong
xã hội, cho nên đã có nhiều biện pháp khác được điều hành bởi các nhân viên quản
chế của Phòng Quản chế trong toà án, do thẩm phán trực tiếp chỉ đạo:
1. Bị can có thể được trả tự do trên cơ sở
tự cam kết của cá nhân, nhưng trong nhiều trường hợp bị can cũng phải ký một hợp
đồng với Phòng Quản chế của Toà án, trong đó bị can cam kết tuân thủ pháp luật
của tiểu bang và liên bang, thông báo sự thay đổi địa chỉ nơi cư trú và nơi làm
việc, báo cáo thường xuyên bằng cách gặp hoặc gọi điện cho nhân viên giám sát,
xin phép khi đi ra khỏi tiểu bang (có một số người Việt Nam phạm tội đã phải
xin phép mới được quay về Việt Nam thăm viếng trong khi chờ xét xử) và bị cấm
làm một số việc nhất định như không được đến gần nạn nhân (nạn nhân đánh lộn
trên đường phố hay là vợ của bị can đã bị ngược đãi trong gia đình) hoặc cấm đến
nơi mà anh ta bị cho là đã có hành vi phạm tội (chẳng hạn cửa hàng nơi anh ta
thực hiện hành vi ăn cắp hoặc ăn trộm).
2. Đồng
thời, cũng có biện pháp sử dụng công nghệ để theo d và kiểm soát bị can, chẳng
hạn, buộc bị can đeo thiết bị điện tử ở chân nhờ đó chính quyền có thể theo sát
anh ta cả 24 giờ/một ngày.
Bảo đảm bằng tiền
Quyền đặt bảo đảm bằng tiền để được tự do tạm thời
trong khi chờ xét xử được ghi nhận trong Sửa đổi số 8 Hiến pháp Hoa Kỳ, trong
đó có ghi: “Không được ấn định số tiền bảo đảm ở mức độ quá đáng”. Bảo đảm có
thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc sự bảo đảm của người khác bằng tài sản của họ
(chẳng hạn một ngôi nhà) hay cam kết của họ sẽ trả tiền nếu bị can bỏ trốn (các
công ty bảo đảm). Nếu mức bảo đảm quá cao, luật sư của bị can có thể kháng cáo
tới toà phúc thẩm để xem xét lại và xin giảm số tiền bảo đảm.
Tuy nhiên, có ngoại lệ không cho phép đóng
tiền bảo đảm nếu bị can nguy hiểm cho xã hội, trong trường hợp này Toà án có thể
tiếp tục tạm giam bị can chờ xét xử. Luật phải buộc mở phiên tòa xét xử đối với
trường hợp tạm giam không cho bảo đảm để luật sư của bị can có thể trình bày chứng
cứ chống lại quyết định của Toà án về tiếp tục tạm giam bị can.
I I I . Quyền bào chữa
Điều 132 Hiến pháp Việt Nam đảm bảo quyền
bào chữa cho bị can, bị cáo, họ có thể tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa.
Điều này của Hiến Pháp cũng quy định rằng các tổ chức luật sư được thành lập để
giúp đõ cho các bị can và những người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của họ. Điều 11 Bộ luật Tố tụng Hình sự khẳng định lại việc đảm bảo
quyền bào chữa và bổ sung thêm rằng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có
nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa.
Như vậy, đương sự không có quyền có luật sư tại thời điểm bị bắt mà chỉ có quyền
yêu cầu luật sư sau khi đã bị tạm giữ. Bị can ở Hoa kỳ cũng ở trong tình trạng
pháp lý tương tự, ngoại trừ việc bị can sẽ được người bắt giữ anh ta thông báo
về quyền của mình theo luật Miranda như sau: người bắt giữ phải thông báo miệng
rằng bị can có quyền yêu cầu sự có mặt của luật sư trước khi bị can cung khai với
nhân viên công quyền bắt mình và bị can có quyền im lặng cho đến khi luật sư có
mặt. CPC 58 (đoạn 1) hạn chế về vai trò người bào chữa này: đối với người bị bắt
giữ trong các trường hợp khẩn cấp và bị bắt quả tang, người bào chữa sẽ tham
gia khi họ nhận được quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều
tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì luật sư chỉ tham gia tố tụng khi
kết thúc điều tra. Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản (1). [ So sánh : Chính phủ Hoa kỳ sau khủng bố
ngày 11/9 muốn giữ kín chứng cứ điều tra không cho luật sư bị can biết vì sợ luật
sư đó sẽ dùng kết quả điều tra để làm mất tín nhiệm các nhân chứng của của Công tố viện. Nhưng Tối
cao Pháp viện Mỹ trong vụ Brady chống Maryland đã ra lệnh cho Công tố viện phải
đưa hết chứng cứ cho luật sư biện hộ, nhất là chứng cứ giải tội, dù luật sư có
thể dùng để làm mất tín nhiệm các nhân chứng của Công tố viện]. Đối với các trường
hợp khác, 58(1) Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định rằng người bào chữa chỉ tham
gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể lựa chọn người bào chữa cho mình là luật
sư hoặc bào chữa viên nhân dân hoặc là người đại diện hợp pháp của mình. Nếu bị
can, bị cáo không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc
Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa
cho họ, hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt
trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong trường hợp bị can,
bị cáo phạm tội có thể đưa đến tử hình hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Bị can, bị cáo và người đại
diện hợp pháp của họ vẫn có quyền nhận hoặc yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người
bào chữa.
Tuy nhiên, trước khi làm việc với thân chủ
của mình, người bào chữa (do bị can, bị cáo lựa chọn hay do Đoàn luật sư, Uỷ
ban mặt trận tổ quốc chỉ định) phải được cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà
án chấp nhận bằng việc cấp giấy chứng nhận trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày
nhận được đề nghị của người bào chữa (đối với trường hợp bị tạm giữ thì trong
thời hạn 24 giờ). Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án có quyền từ chối cấp giấy chứng nhận khi có lý do cụ thể –
BLTTHS, Điều 56 (4). Do đó, quyền bào chữa phụ thuộc vào ý chí của cơ quan điều
tra, viện kiểm sát (bên buộc tội) chứ không chỉ phụ thuộc vào ý chí của người
xét xử công tâm tức là toà án xét xử . Điều này khác với thực tế ở Hoa kỳ.
Người bảo vệ quyền lợi của các bên có liên
quan trong vụ án, bao gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (có thể là luật sư hoặc bào chữa
viên nhân dân) cũng phải được sự chấp nhận của cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
toà án Điều 59 (1) Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tuy nhiên, một khi người bào chữa đã tiến
hành công việc của mình thì pháp luật quy định cho họ nhiều cơ hội để bảo vệ có
hiệu quả các quyền lợi của khách hàng nếu họ dám làm, đặc biệt quy định họ được
yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng về trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng - Điều 62 Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Người bào chữa có thể thực hiện các hoạt động
được quy định trong Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo vệ cho bị đơn, cụ thể như sau:
1. Gặp bị đơn đang bị tạm giam; và giữ bí mật về những
thông tin thu được trong khi thi hành nhiệm vụ của mình ( Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự (3-f))
2.
Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu quan trọng trong hồ sơ vụ; thu thập tất cả các tài liệu, đồ vật, tình tiết
liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân
thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức họ làm việc;
3. Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung
bị can để có mặt khi hỏi cung bị can, hỏi người bị tạm giữ,
bị can để hỗ trợ họ trong quá trình hỏi cung; cung cấp các tài liệu Điều 62, đoạn
(3a), nhấn mạnh rằng người bào chữa có nghĩa vụ phải sử dụng mọi biện pháp do
pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị
cáo
4.
Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
5.
Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
6.
Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án.
Một trong những vai trò quan trọng của người
bào chữa là đảm bảo rằng bị can, bị cáo có quyền không bị bức cung, nhục hình
(Điều 6-BLTTHS) và khuyến khích, động viên bị can, bị cáo không sợ hãi hoặc bị bức cung mà khai báo sai, thiệt hại đến
lợi ích của họ. Người bào chữa có thể nói với bị can, bị cáo rằng họ không có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (suy đoán vô tội ở Điều 9-BLTTHS) và
pháp luật cũng quy định rõ rằng "Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về
các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng
minh là mình vô tội "( Điều 10-BLTTHS). Các lời khai không phù hợp với các
chứng cứ khác trong vụ án (suy đoán là do bức cung) sẽ không được coi là chứng
cứ (Điều 72 (2)-BLTTHS). Điều 63 và phần
còn lại của Chương V của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đầy đủ về nghĩa vụ của
cơ quan Nhà nước thu thập chứng cứ trong các vụ án hình sự, để hoàn thành gánh
nặng dẫn chứng của các cơ quan đó. Do đó, bị can, bị cáo có thể tận dụng các
quy định này để không phải khai báo nhằm chứng minh là mình vộ tội, và do đó họ
được giữ im lặng, giống như Sửa đổi số 5 của Tuyên ngôn Nhân quyền trong Hiếp
pháp Hoa kỳ.
Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự có vẻ
như là không thừa nhận quyền được im lặng này, bởi vì trong Điều 71 and 72 có vẻ
quy định bị can, bị cáo có nghĩa vụ trình bày. Cả 2 Điều này đều quy định rằng
người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo “trình bày về những tình tiết của vụ
án”. Tuy nhiên cả hai Điều 71,72 đều không dùng chữ “phải trình bày” mà chỉ
dùng chữ “trình bày”, cho nên những người bào chữa có thể nói là bị can/bị cáo
không thể bị ép cung và sự ép cung là bất hợp pháp, và do đó có quyền giữ im lặng.
Quyền của luật sư trong thực tế của
Hoa kỳ
Như đã nêu ở trên, có 2 thứ quyền nhờ luật sư đại diện
khác nhau với các lý do nền tảng khác nhau: (1) quyền nhờ luật sư do Sửa đổi Hiến
pháp số Năm được quy định chi tiết trong cảnh báo Miranda, sẽ xuất hiện khi bị
can, bị cáo bị bắt giữ và phải chịu xét hỏi khi tạm giữ; quyền nhờ luật sư
trong giai đoạn này nhằm đảm bảo tính công bằng khi xét hỏi trong lúc tạm giữ.
(2) Trong Sửa đổi Hiến pháp số Sáu, quyền bào chữa chỉ có khi tố tụng hình sự
chính thức thức bắt đầu. Vụ Kirby kiện bang Illinois 406 U.S. 682,689 (1972).
Quyền nhờ luật sư nhằm mục đích đảm bảo quyền của bị cáo được dựa vào luật sư
như là cấu nối trung gian giữa họ và nhà nứơc và giao tiếp với cảnh sát chỉ
thông qua luật sư.
1. Quyền nhờ luật sư khi bị bắt và
tạm giữ trong Sửa đổi Hiến pháp số 5
Sau khi quy tắc Miranda được đặt ra năm
1966, cảnh sát vẫn gián tiếp vi phạm nó bằng cách không thông báo với bị can, bị
cáo rằng luật sư của anh ta hoặc luật sư do người thân của anh ta đề nghị sẽ có
mặt và bằng việc lừa dối luật sư về địa điểm tạm giam. Commonwealth v. Sharman 389 Mass.287,291
(1983); Commonwealth v. McKenna 355 Mass. 313,324 (1969), Weber v. State 457
A2d 674,686 (Del 1983) , Haliburton v. State 476 SO 2d 192,194 (Fla 1985).
Trong nhiều năm ở các toà án Hoa kỳ đã có những sự đấu tranh gay go chống sảnh
sát về vấn đề tôn trọng quyền bào chữa. Commonwealth v. Mavredakis ,430
Mass.848(2000) ở trong 861 quy định rằng "Khi một luật sư ra mặt nói danh
tính của mình với cảnh sát với tư cách luật sư thay mặt cho bị can, bị cáo thì
cảnh sát có nghĩa vụ dừng việc xét hỏi và thông báo với bị can, bị cáo yêu cầu
của luật sư ngay lập tức. Nghĩa vụ thông báo được thực hiện khi luật sư gọi điện
hay trực tiếp đến đồn cảnh sát". Bản thân
bị can, bị cáo cũng có thể khẳng định quyền bào chữa của mình. Vụ Edward
v. Arizona 451 U.S. 477,484-485(1981) quy định rằng bị can, bị cáo đang bị tạm
giữ nêu ra quyền có luật sư trong quá trình xét hỏi có thể sẽ không bị xét hỏi
thêm cho đến tận khi có luật sư hoặc trừ khi chính bị can, bị cáo chấp nhận tiếp
tục nói chuyện. Cảnh sát cũng không thể sử dụng thủ thuật để nhử bị can, bị cáo
khai báo, ví dụ bằng cách đề nghị giải thích về hệ thống tư pháp hình sự để mời
anh ta nói- vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Johnson 812 F 2d 1329,1331 (1986). Cảnh
sát không thể dùng lề lối xét hỏi ngụy trang bằng cách nhờ các nhân viên mật
đóng giả tù nhân- Nhân dân kiện Perkins 618 N.E. 2d 1275,1281-1282 (Ill.1993).
Tuy nhiên, việc khai báo tự nguyện là có thể chấp nhận được; ví dụ sau khi yêu
cầu có luật sư, bị can, bị cáo nói rằng “tôi nhận làm chuyện đó”, Commonwealth
v. Saroust Noon 426 Mass.152,157 (1977), hoặc bị cáo “buột miệng” khai báo,
United States v. Guido 704 F 2d 675,678 (1983).
Tuy nhiên, có một số quy định chặt chẽ hơn
về điều kiện để đòi quyền có luật sư. Tội phạm chuyên nghiệp không thể sử dụng
quyền này để làm như thể là có “luật sư gia đình” (house counsel) do việc đã có
những thành tích bất hảo trước đó. United States v. Masullo 489 F 2d 217,223
(1973). Thứ nhất, phải có một mối quan hệ luật sư - khách hàng thực sự; nếu luật
sư không chính thức đại diện cho bị can, bị cáo, thì luật sư không thể yêu cầu
dừng xét hỏi. Một luật sư có thể đã đại diện cho một bị can, bị cáo trong một vụ
bắn súng ống 30 tháng truớc đó, nhưng mà không có bằng chứng nào cho thấy rằng
luật sư là người bào chữa cho anh ta trong vụ giết người hiện tại. Commonwealth
v. Shipps,399 Mass.820 (1987). Thứ hai, cảnh sát không chịu trách nhiệm nếu người
bào chữa không siêng năng và không đến đúng lúc. “Việc tạm dừng xét hỏi chỉ được
thực hiện khi người bào chữa có mặt tại đồn cảnh sát trong thời gian hợp lý”, vụ
Mavredakis, được trích ở trên.
2. Quyền nhờ luật sư sau khi có thủ
tục buộc tội chính thức trong Sửa đổi Hiến pháp số Sáu
Quyền này chỉ có "sau khi vai trò của
chính quyền được chuyển từ điều tra sang luận tội và bị can, bị cáo nhận thấy rằng
họ phải đối mặt với đội ngũ công tố viên của xã hội có tổ chức". Vụ Kirby
v. Illinois, supra , 689. Quyền Bào chữa trong Sửa đổi Hiến pháp số Sáu xuất hiện
ở giai đoạn đối chất giữa bị can, bị cáo và cơ quan công tố của nhà nước. Vụ
Chính phủ Hoa Kỳ kiện Wade,388 U.S. 218,
224 (1967). Công tác thường nhất đưa đơn khởi tố và lệnh bắt chung quy không phải
là một sự buộc tội chính thức khởi đầu tố tụng đới tranh.Vụ Commonwealth v.
Smallwood,379 Mass.876(1980). Bị can, bị cáo không có quyền bào chữa nói trong
Sửa đổi Hiến pháp số Sáu trong khi thương lượng nhận tội trước khi có truy tố
chính thức. Chính phủ Hoa Kỳ kiện Moody 206 F 3d 609,614 (2000), hoặc trong những
thủ tục không có tính cách đối nghịch, ví dụ như chẩn bệnh thần kinh, Chính phủ
Hoa Kỳ kiện Bondurant 689 F 2d 1246,1249 (1982), hoặc một quyết định trình thử
độ rượu trong máu, Commonwealth v. Brazelton 404 Mass. 783,785 (1989). Không có
quyền hỏi ý kiến người bào chữa khi đứng làm chứng, ví dụ trước Bồi thẩm đoàn -
vụ Perry v. Leeke 488 U.S. 272 (1989). Quyền có luật sư này cũng bị hạn chế đối
với những tội cụ thể đang bị truy tố bởi vì nó không ngăn cản cảnh sát xét hỏi
những tội không có liên quan- vụ McNeil v. Wisconsin 501 U.S. 171,175 (1991).
Làm thế nào để xác nhận quyền nhờ luật sư
này? Bị can, bị cáo phải khẳng định yêu cầu chỉ định luật sư hoặc tự thuê luật
sư cho mình.
ảnh
hưởng của quyền nhờ luật sư này như sau: (i) Sau khi bắt đầu quyền nhờ luật sư
này, mọi lời khai của bị can, bị cáo trong quá trình xét hỏi lúc bị tạm giữ do
cảnh sát thực hiện đều không được nhận vô hiện vụ, McNeil v. Wisconsin, supra,
trang 179 . (ii) Công tố viên tìm cách tiếp xúc với một bị can, bị cáo nào đã
có người bào chữa là vị phạm các quy tắc đạo đức, cho dù thực tế là bị can, bị
cáo đi qua mặt luật sư của mình để thảo luận về việc mặc cả nhận tội. United
States v. Lopez 4 F 3d 1455(1993). (iii) Không thể có sự xét hỏi ngụy trang.
Sau khi bản cáo trạng chính thức được lập, nhà nước không thể sử dụng những người
báo tin (các nhân viên chìm) để moi móc các lời khai làm lộ tội một cách trái phép từ một bị can,
bị cáo đã có luật sư đại diện. Maine v. Moulton 474 U.S. 159,176 (1985). Chính
quyền không thể tuyển dụng một tù nhân cùng buồng giam để lấy lời khai làm lộ tội
từ một bị can, bị cáo đã bị truy tố. Massiah v. United States 377 U.S.201,206
(1964). Nhưng sẽ không vi phạm quyền theo Sửa đổi Hiến pháp số Sáu khi tù nhân
cùng phòng giam đơn giản chỉ “mở to hai tai của anh ta” và báo cáo lại các lời
nói làm lộ ra tội của bị can, bị cáo. Kuhlman v. Wilson 477 US 436.
Việc
từ bỏ quyền bào chữa phải là tự nguyện và có sự hiểu thấu, tuy không cần phải
minh nhiên, ví dụ, bị can, bị cáo đề nghị liên hệ với nhân viên nhà nước. vụ
Chính phủ Hoa Kỳ kiện Monti 577 F 2d 899, 904 (1977), hoặc khăng khăng khai muốn
báo trước khi có hẹn họp làm việc với luật sư, vụ Commonwealth v. Curtis 388
Mass.637 (648) (1983), hoặc buột mồm nói về sự vô tội của đồng bị can, bị cáo,
vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Melanson 691 F 2d 579,585-588, hoặc nói lộ tội một
cách tự nguyện với tù nhân cùng phòng giam, Commonwealth v. Libran 405
Mass.6343,639-640.
Các
chế tài đối với việc vi phạm quyền có luật sư. Bị can, bị cáo phải chỉ ra
việc chính quyền làm sai có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của công tác đại diện của
luật sư hoặc là có thiệt hại đến sự bào chữa của bị can, bị cáo. Vụ Chính phủ
Hoa Kỳ kiện Morrison 449 U.S. 361,365 (1981). Nếu chính quyền không tìm thấy bằng
chứng nào có giá trị hoặc không thấy sự vi phạm nào thì sẽ không có biện pháp
chế tài. United States v. Solomon, 679 F
2d 1246,1251 (1982)
Nếu có sự thiệt hại cho bị can thì cách xử
lý thông thường là dẹp bỏ các bằng chứng, hay lời khai, hoặc thậm chí là bãi bỏ
vụ kiện luôn không cho kiện lại. Commonwealth v. Fontaine 402 Mass.491,497
(1988) (cảnh sát giám sát bằng điện tử cuộc thảo luận giữa bị can, bị cáo và luật
sư của họ), United States v. Levy 577 F 2d 200,210 (1978). (người đưa tin giả
thuê luật sư của bị can với mục đích đột nhập vào buổi họp bàn kế hoạch của luật
sư).
Một số vụ án có thể bị bác bỏ mà không phải
chứng tỏ có thiệt hại. Commonwealth v. Manning 373 Mass.438,443-445 (1977)
(nhân viên nhà nước liên hệ với bị can, bị cáo với mục đích chủ tâm nói xấu khả
năng của luật sư của họ).
IV. Thực hiện quyền bào chữa : biện
pháp kỷ luật và chế tài pháp lý, theo dõi bởi các đại diện công luận về sự vi
phạm các quyền
Các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp Việt
Nam và Bộ luật Tố tụng hình sự là rất đặc trưng cho Việt Nam.
Kỷ luật và chế tài pháp lý đối với
các vi phạm về quyền bào chữa. Điều 72 Hiến pháp Việt
Nam qui định "các chế tài nghiêm khắc đối với các cơ quan có thẩm quyền vi phạm pháp luật về việc bắt, giam giữ, truy
tố và kết án mà gây ra thiệt hại cho người khác" và Điều 74 cũng quy định
việc "bồi thường và phục hồi danh dự” cho những nạn nhân của sự vi phạm
các quyền hợp pháp. Điều 12 , 29 và 30 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu các cơ
quan chức năng trước khi tiến hành tố tụng
phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật và buộc những người thực hiện
việc bắt, giam giữ, truy tố và kết án không đúng pháp luật phải chịu kỷ luật và
truy tố hình sự, đồng thời yêu cầu những người vi phạm phải bồi thường và phục
hồi danh dự cho người bị hại.
Những người tham gia tố tụng không được
phép tham gia giải quyết vụ án nếu có cơ sở cho rằng họ có thể không công bằng
(Điều 14 BLTTHS). Họ phải từ chối không tham gia vụ án hoặc có thể bị thay đổi
theo yêu cầu của bị can, bị cáo hoặc những người liên quan trong vụ án, nếu có
xung đột về lợi ích (họ là nạn nhân, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi liên quan, người bào chữa, đại diện, người làm chứng, chuyên gia, người
phiên dịch trong vụ án hoặc là họ hàng của bị can, bị cáo) hoặc có cơ sở khác
cho thấy sự không vô tư của họ (Điều 42 và 43-BLTTHS). Đối với thẩm phán và hội
thẩm nhân dân thì sẽ phải rút khỏi vụ án nếu có lợi ích liên quan hoặc nếu họ
đã tham gia vào vụ án với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thư ký tòa
hoặc thẩm phán khi xét xử sơ thẩm, hoặc nếu họ có quan hệ họ hàng với nhau (Điều
46 BLTTHS). Họ phải làm việc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ((Điều 16
BLTTHS).
Thủ tục khiếu nại và tố cáo trong tố
tụng hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự có cả một Chương 24
về quyền của cá nhân (bao gồm cả bị cáo) cũng như của các cơ quan, tổ chức được
khiếu nại đối với các hành vi trong quá trình tố tụng hình sự mà có vi phạm
pháp luật hoặc xâm phạm các quyền lợi của họ. Người bị khiếu nại, cho dù là cán
bộ điều tra, kiển sát viên, thẩm phán hoặc những người khác thực hiện việc điều
tra phải giải thích và đưa ra chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của các hoạt động
đã thực hiện. Việc khiếu nại phải được thủ trưởng của cơ quan điều tra,viện kiểm
sát hoặc chánh án toà án giải quyết trong thời gian 7 ngày, nếu không đồng ý với
sự giải quyết ở cấp này thì khiếu naị sẽ được đưa lên cấp trên của các cơ quan
này giải quyết trong thời gian 15 ngày. Tuy nhiên, thời hạn khiếu nại đối với
việc bắt giữ, tạm giữ, tạm giam phải được viện kiểm sát giải quyết ngay và nếu
cần thiết có thêm thời gian thì trong thời hạn là 3 ngày. Chương 24 cũng cho
phép mọi công dân có quyền tố cáo sự vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến
hành tố tụng mà gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nhà nước, các cơ quan,
tổ chức và công dân
Giám sát của công luận. Các nhà lãnh đạo của cơ quan công luận như
các cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, và có thể yêu cầu các cơ quan tiến hành
tố tụng xem xét lại và xử lý những hoạt động trái pháp luật của các cơ quan tiến
hành tố tụng (Điều 32 BLTTHS).
Các
chế tài đối với công tố viên và thẩm
phán trong hệ thống của Hoa kỳ
Do nguyên tắc miễn trừ tư pháp của thẩm
phán Hoa kỳ khi thực thi nhiệm vụ chuyên môn nên họ không phải chịu trách nhiệm
cá nhân trong việc trả bồi thường và phục hồi danh dự cho bị can, bị cáo do lỗi
của họ trong quá trình tố tụng. Việc sửa chữa sai sót cho bị can, bị cáo theo
những cách thức như sau:
1) Yêu cầu toà án sửa hoặc huỷ bỏ bản án,
tuy nhiên yêu cầu này chỉ có thể đối với bản án (sentence), và không phải là việc
xem xét lại các vấn đề về tình tiết (facts) mà sau khi có quyết định của bồi thẩm
đoàn, sẽ có hiệu lực quyết tụng về mặt pháp lý.
2) Kháng cáo vụ án lên toà phúc thẩm để
xem xét lại, tuy nhiên chỉ xem xét lại sự sai sót về pháp luật (error of law)
và sự lạm quyền quyết định chứ không xem xét lại toàn bộ các vấn đề về tình tiết,
giống như ở cấp xét xử thứ hai của Việt Nam (của hệ thống dân luật khác, ví dụ
như Pháp). Nếu toà phúc thẩm phát hiện ra những sai sót về pháp luật, chẳng hạn
trong khi phán quyết về các kiến nghị, toà phúc thẩm sẽ chuyển lại vụ án, đôi
khi là cho cùng thẩm phán xét xử để xét xử lại, điều này không thuận lợi và gây
lo lắng cho bị can, bị cáo. Có trường hợp toà phúc thẩm chỉ đưa ra một quyết định
rất ngắn trong đó nêu rằng toà phúc thẩm bác đơn kháng cáo và khẳng định lại bản
án đã tuyên, điều này làm cho bị can, bị cáo thất vọng.
Các
thẩm phán xét xử vụ án có thể bị thay thế do bị bãi miễn vì những tội nghiêm trọng,
ví dụ như tham nhũng. Tuy nhiên, việc buộc tội các thẩm phán là con đường rất
khó đối với các bị can , bị cáo bình thường và dường như là anh ta đã bắt đầu một
cuộc chiến với thẩm phán thay vì chỉ hạn chế vào việc tranh chấp về bản án về vụ
của anh ta. Cách thức để bị can, bị cáo né tránh một thẩm phán chỉ có thể có được
trước phiên xét xử: yêu cầu thẩm phán rút khỏi vụ án trước khi xét xử, tuy
nhiên điều này đòi hỏi phải có cơ sở chắc chắn.
Đối với công tố viên, có một số trường hợp
công tố viên vi phạm trắng trợn, ví dụ như không kiểm tra kỹ lưỡng lời khai của
nhân chứng hoặc bỏ sót các chứng cứ quan trọng dẫn đến những bản án nặng hoặc
thậm chí cả tội chết cho bị can, bị cáo. Một khi bị can, bị cáo được minh oan
nhờ các tình tiết mới được phát hiện, do những chứng cứ khoa học như kiểm tra
ADN, sau nhiều năm phải ngồi tù (đối với một số bị can, bị cáo đã bị ngồi ghế
điện thì điều này sẽ là quá muộn) thì chỉ còn biện pháp khôi phục lại cho họ là
kiện nhà nước do những thiệt hại đã phải chịu. Còn công tố viên, tối đa cũng chỉ
có thể phải chịu biện pháp kỷ luật hành chính nội bộ trong cơ quan mình. Công tố
viên không phải chịu trách nhiệm cá nhân trong việc trả bồi thường cho bị can,
bị cáo, bởi thế bị can, bị cáo phải yêu cầu nhà nước bồi thường cho mình .
Một vài kết luận sơ bộ
1. Có nhiều điểm giống nhau giữa hệ thống tố tụng
hình sự và hình sự của Việt Nam và Hoa Kỳ hơn là những điểm khác nhau, ít nhất
là trong các quy định quan trọng về quyền bào chữa, một phần quan trọng của
pháp quyền.
2. Hoa Kỳ đã có hàng trăm năm luật án lệ,
được phát triển dần từ những ngày đầu tiên hình thành quốc gia với Tuyên ngôn
Nhân quyền trong Hiến pháp của Liên Bang cho đến khi xây dựng một hệ thống các
nguyên tắc và trình tự chặt chẽ để bảo vệ cho các quyền của bị can, bị cáo và
các vấn đề khác trong luật hình sự và tố tụng hình sự. Ngược lại, Việt Nam,
thành viên của hệ thống dân luật (kể từ thời kỳ là thuộc địa của Pháp và thời kỳ
chịu sự ảnh hưởng của Liên Xô), đã nhanh chóng xây dựng một Bộ Luật Tố tụng
Hình sự toàn diện kết hợp nhiều nguyên tắc công bằng của một hệ thống tư pháp
hình sự hiện đại (cho dù việc thực thi vẫn còn là vấn đề cần thảo luận). So
sánh với những nước cộng sản khác như nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, việc
pháp điển hóa luật tại Việt Nam khá nhanh chóng. Việc xây dựng luật nhanh chóng
diễn ra không chỉ do nỗ lực toàn diện của Việt Nam hướng tới hiện đại hoá trong
thời kỳ đổi mới mà còn bởi vì sự xây dựng luật thành văn nhanh chóng của hệ thống
dân luật, là điểm lợi thế so sánh rõ rệt của hệ thống dân luật khi so sánh với
hệ thống luật án lệ.
Luật
sư Tạ Văn Tài
1/4/
2004
Comments
Post a Comment