GIẢI ĐÁP LUẬT PHÁP.: VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO LUẬT PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH.

 

GIẢI ĐÁP LUẬT PHÁP.

VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO LUẬT PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH.

 

Luật sư Việt Hà

 

1/- Chia thừa kế khi bố mất không để lại di chúc

         Bố tôi qua đời đột ngột không để lại di chúc. Chúng tôi có ba mẹ con. Đề nghị cho biết quyền thừa kế của mỗi người trong trường hợp này

Trả lời:

        Theo các quy định về thừa kế tại Bộ luật Dân sự, người chết không để lại di chúc định đoạt tài sản của mình, thì di sản của người đó sẽ được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha, mẹ và con của người chết; hàng thứ hai gồm ông, bà, anh, chị em ruột của người chết... Những người ở cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản khi tất cả những người ở hàng thừa kế trước đó đã chết hoặc không được phép hưởng di sản.

         Ở trường hợp của bạn, cả ba mẹ con đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Nhưng việc chia thừa kế còn phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản:

   1. Di sản riêng của bố bạn sẽ được chia đều cho 3 người.

   2. Tài sản chung của bố mẹ bạn sẽ được chia đôi. Phần của người mất được chia đều cho 3 người.

 

2/- Chia thừa kế khi cha đã mất để lại vợ bé không hôn thú

        Cha tôi có 2 vợ, một có hôn thú là mẹ tôi, có 5 người con; bà hai không hôn thú, sinh 6 người con, trong giấy khai sinh để trống phần cha. Cha tôi mất 14 năm trước không để lại di chúc. Sau đó 9 năm, 3 chị em tôi ra nước ngoài, mẹ tôi cũng đi nơi khác, để ngôi nhà mà cha mẹ tôi đứng tên cho mẹ con bà hai dùng. Căn nhà này được chia thừa kế thế nào? Tranh chấp giải quyết ra sao?”

Trả lời:

   1. Cha của chị mất cách đây 14 năm, tức năm 1998, và đã có nhiều con, có nghĩa là họ sống với nhau từ trước năm 1986 (thời điểm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình). Do vậy dù không có hôn thú, hôn nhân của họ vẫn được thừa nhận là hôn nhân thực tế. Cha chị mất không có di chúc, nên cả hai bà vợ hai cùng 11 người con bình đẳng với nhau trong thừa kế phần di sản của ông để lại.

        Ngôi nhà hiện nay theo chị nói giấy tờ ghi đủ tên cha và mẹ chị, có nghĩa là tài sản chung của hai người. Do đó di sản của cha chị để lại là 1/2 ngôi nhà này (phần còn lại của mẹ chị). Phần di sản của cha chị tiếp tục được chia đều cho hai bà vợ và tất cả những người con của ông (tổng cộng 13 người).

   2. Thời hiệu khởi kiện thừa kế theo Bộ luật Dân sự là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm cha chị mất). Nhưng theo Nghị quyết 58 về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 thì trường hợp của chị nếu khởi kiện ngay thì vẫn còn thời hiệu. Tuy nhiên, theo Nghị quyết này và hướng dẫn của TAND Tối cao, vì vụ việc liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên tòa chỉ giải quyết khi người ở nước ngoài có giấy khước từ hoặc nhượng phần được hưởng thừa kế của mình cho người đang ở trong nước.

 

3/- Chia thừa kế trường hợp người chết có nhiều vợ

         “Bố tôi có hai vợ, một là mẹ tôi (có chung 2 người con, sống với nhau từ năm 1975 đến 1985, không đăng ký), và một bà khác (từ 1990, có 1 con chung, trước đó không ly hôn với mẹ tôi). Năm 1997, cụ mất không để lại di chúc. Chúng tôi và người vợ hai có được hưởng thừa kế thế nào?” (bạn đọc N. T. T.).

Trả lời:

   1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bố và mẹ bạn (tạm gọi là bà A) không có đăng ký kết hôn nhưng được xác định là hôn nhân thực tế. Do đó việc hai người không ly hôn mà cụ ông lại về chung sống với người phụ nữ khác (bà B) là bất hợp pháp.

   2. Ông cụ chết không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật. Bà B không được hưởng thừa kế nhưng được sở hữu phần đóng góp của mình trong khối tài sản chung với bố bạn.

   3. Phần di sản của ông cụ được chia thừa kế cho 4 người: bà A, 2 chị em bạn, và người con chung của ông với bà B.

 

4/- Di chúc không buộc phải có chứng nhận của địa phương

         “Đề nghị giải đáp cho tôi hai câu hỏi: 1. Di chúc viết tay không có sự chứng kiến, chứng nhận của chính quyền địa phương, không qua công chứng có được xem là hợp pháp không? 2. Việt kiều có được hưởng thừa kế bất động sản trong nước không?” (H. A. T).

Trả lời:

   1. Bộ luật Dân sự Việt Nam cho phép người để lại di sản lập di chúc bằng văn bản không cần người làm chứng hay xác nhận của chính quyền (Điều 658). Văn bản đó phải được lập theo đúng quy định tại Điều 656: Ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang, thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

   2. Việt kiều đang sống ở nước ngoài không được đứng tên sở hữu tài sản là bất động sản do được hưởng theo di chúc. Theo quy định tại điểm b, khoản 4 Điều 10 Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam thì “đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được quy định tại Điều 5 Nghị định này, nếu nhận thừa kế thì chỉ được hưởng về giá trị của phần thừa kế đó”.

 

5/- Việt kiều hưởng thừa kế tài sản của vợ ở Việt Nam thế nào?

“Vợ tôi quốc tịch Việt Nam đứng tên mua nhà đất tại TP HCM và đã được cấp sổ đỏ. Nay vợ tôi chết, tôi là người thừa kế duy nhất nhưng lại đang định cư nước ngoài. Tôi muốn thừa kế di sản của cô ấy thì phải làm gì?” (bạn đọc L. P.).

Trả lời:

         Nếu anh là người thừa kế duy nhất của vợ thì về nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, anh có quyền thừa kế toàn bộ di sản của vợ để lại. Anh cần xuất trình những giấy tờ chứng minh mình là chồng và là người thừa kế duy nhất của vợ với phòng công chứng của tỉnh, thành phố nơi có nhà, đất để xin chứng thực hưởng thừa kế.

        Tuy nhiên, anh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nên quyền thừa kế sẽ bị hạn chế bởi Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.  Theo Điều 5 văn bản này, Việt kiều về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, được cấp giấy phép đầu tư hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc là người xin về sinh sống ổn định tại Việt Nam và được cấp có thẩm quyền chấp thuận, thì được quyền đứng tên chủ quyền nhà, đất.

        Điểm b, khoản 4, Điều 10 văn bản này quy định: “Với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được quy định tại Điều 5, nếu nhận thừa kế thì chỉ được hưởng về giá trị của phần thừa kế đó”. Nghĩa là anh chỉ có thể được hưởng số tiền bán tài sản chứ không thể đứng tên chủ quyền nhà, đất với di sản đó.

 

6/- Tôi muốn từ chối nhận thừa kế

         Ba má tôi qua đời để lại một căn nhà không lập di chúc là cho ai. Anh em tôi ở Australia đồng ý là sẽ từ chối nhận thừa kế, để lại toàn bộ cho em út trong nước với điều kiện cậu ấy không được sang nhượng. Chúng tôi sẽ làm thế nào” (bạn đọc giấu tên).

Trả lời:

   1. Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự thì người được thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Thời hạn từ chối là 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế (ngày người để lại di sản thừa kế chết). Với quy định trên thì bạn hoàn toàn có thể làm giấy từ chối hưởng di sản thừa kế, được cơ quan đại diện ngoại giao tại Australia xác nhận.

   2. Tuy nhiên giấy từ chối nhận di sản thừa kế sẽ không hợp lệ nếu trong đó đặt điều kiện với người em út. Bởi bạn từ chối hưởng di sản có nghĩa là không có quyền sở hữu, trong đó có quyền định đoạt.

   3. Người em có thể thỏa mãn các điều kiện của bạn, nếu trước khi các anh chị có giấy từ chối hưởng di sản, cậu ấy đã lập giấy cam kết không chuyển nhượng di sản nếu được hưởng toàn bộ.

   Theo Luật sư Việt Hà

   Đoàn Luật sư Hà Nội

(Trích Tạp chí chuyên đề  Luật Pháp & Đời Sống sưu tầm trên mạng)

 

 

 

Comments

Popular posts from this blog

THÔNG BÁO Về Đặc San Luật Khoa 2025 cập nhật.

Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán 0

CÂU KẠC BỘ LUẬT KHOA VIỆT NAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI ẤT TỴ 2025