LUẬT SO SÁNH (Comparative Law): Trình tự Xét xử công minh- Những trường hợp đặc biệt : VỀ Trẻ em - Bản dịch VŨ QUỐC NGỮ, HIỆU ĐÍNH LS. ĐẶNG DŨNG
LUẬT
SO SÁNH (Comparative Law):
Trình tự Xét
xử công minh- Những trường hợp đặc biệt :
VỀ Trẻ em
- Việc tiến hành các thủ tục tố tụng chống lại vị thành
niên
Bắt giữ
-Thông báo cho cha mẹ và sự
tham gia của họ trong vụ án
-Hỗ trợ pháp lý và hỗ trợ khác
-Nhiệm vụ cụ thể để chống
lại việc tự buộc tội
-Quyền được thông tin về cáo buộc và các quyền
-Quyền được lắng nghe
- Giam giữ trước khi xét xử
-Việt xét xử được tiến hành một cách nhanh nhất có thể
-Việc bảo mật trong quá trình tố tụng
-Thông báo về quyết định Phúc thẩm
- Giải quyết các trường hợp
-Việc cấm giam giữ trẻ em cùng với người lớn
-Các giải pháp thay thế cho việc tước quyền tự do
-Những hình phạt bị cấm
-Nạn nhân và nhân chứng trẻ em
==============
Những thay thế cho trình tự tố tụng chính thức
Các quốc gia cần xây dựng và áp dụng một
loạt những biện pháp để đối phó với trẻ em vi phạm pháp luật theo những cách mà
không dùng đến thủ tục tố tụng tư pháp.
Các biện pháp này,
thường được gọi là chương trình chuyển hướng, phải đảm bảo đầy đủ các quyền con
người của trẻ em và biện pháp bảo vệ pháp lý, bao gồm cả quyền được trợ giúp
pháp lý ở mọi giai đoạn của quá trình.
Ủy ban Nhân quyền khuyến
cáo các biện pháp như hòa giải giữa thủ phạm và nạn nhân, đối thoại với gia đình
của thủ phạm, tư vấn, dịch vụ cộng đồng hoặc các chương trình giáo dục.
Chương trình chuyển
hướng chỉ nên được sử dụng khi đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em, bao gồm tái
hòa nhập của trẻ. Các biện pháp này đòi hỏi phải có sự đồng ý tự do và tự
nguyện của trẻ, dựa trên thông tin về bản chất, nội dung và thời gian áp dụng,
và hậu quả của việc không hợp tác hoặc hoàn thành các biện pháp.
Sau khi hoàn thành,
chuyển hướng nên kết quả trong một đóng cửa rõ ràng và cuối cùng của vụ án.
Chuyển hướng không nên kết quả trong một hồ sơ tội phạm, và một đứa trẻ hoàn
thành chuyển hướng không nên được coi là có một tiền án hình sự.
Việc tiến hành các thủ tục tố tụng chống lại vị thành niên
Trẻ em được hưởng tất cả các đảm bảo xét
xử công bằng và bảo vệ được áp dụng cho người lớn, ngoài ra còn được chăm sóc
và bảo vệ đặc biệt.
Quyền tham gia tố tụng
và được lắng nghe, tính bảo mật của thông tin liên lạc giữa trẻ em và những
người trợ giúp pháp lý, và quyền xét xử công bằng khác có thể dễ dàng bị bỏ
qua trong nhiều trường hợp liên quan đến trẻ em hơn người lớn trong các phiên
xét xử. Các tòa án, công tố viên, cảnh sát, và những người khác trong hệ thống
tư pháp vị thành niên phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để bảo vệ quyền xét
xử công bằng của trẻ em.
Trẻ em vi phạm pháp luật
phải được đảm bảo xét xử bởi một tòa án có đủ thẩm quyền, độc lập và vô tư.
(Xem Chương 12- Quyền được xét xử bởi một tòa án đủ thẩm quyền, độc lập và vô
tư được thành lập theo pháp luật.)
Tòa án châu Âu cho rằng
khi thẩm phán cùng tiến hành điều tra sơ bộ, chỉ đạo quá trình thu thập bằng
chứng, và sau đó chủ trì phiên tòa tại tòa án danh cho trẻ vị thành niên, thì
tính bảo đảm độc lập và không thiên vị của tòa án bị vi phạm.
Thiết lập và tiến hành
các thủ tục tố tụng phải tính đến độ tuổi và sự trưởng thành của trẻ, năng lực
trí tuệ và tình cảm và cho phép trẻ tham gia một cách tự do.
Ủy ban về quyền trẻ em
đã tuyên bố rằng một đứa trẻ không thể tham gia vào thủ tục tố tụng và thực
hiện hiệu quả quyền được lắng nghe ở nơi môi trường đe dọa, thù địch, không
nhạy cảm hoặc không phù hợp với lứa tuổi: Các trình tự phải dễ tiếp cận và
thích hợp với trẻ em. Cần cung cấp thông tin cho trẻ em theo một cách thân
thiện, hỗ trợ tư pháp đầy đủ, đội ngũ được đào tạo bài bài, thiết kế của phòng
xử án, trang phục của thẩm phán và luật sư, màn hình đẹp mắt và phòng chờ riêng
biệt.
Tòa án châu Âu cho rằng
một đứa trẻ 11 tuổi bị xét xử bởi một tòa án dành cho người trưởng thành có sự
chứng kiến của công chúng thì đứa trẻ đó không thể bào chữa hiệu quả. Tòa án này
cho rằng việc thay đổi các thủ tục tố tụng liên quan đến độ tuổi của bị cáo,
chẳng hạn như giải lao thường xuyên, là không đủ để đảm bảo một phiên tòa công
bằng.
Chăm sóc đặc biệt phải
được thực hiện để đảm bảo rằng việc tiến hành các thủ tục tố tụng không có phân
biệt đối xử nào, bao gồm cả định kiến giới.
Một đứa trẻ không hiểu
hay không nói được ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống tư pháp dành cho trẻ vị
thành niên có quyền nhận trợ giúp miễn phí của một thông dịch viên, không nên
chỉ giới hạn ở những phiên tòa xét xử mà cũng nên có sẵn ở tất cả các giai đoạn
của quá trình tư pháp dành cho trẻ vị thành niên. Điều quan trọng là các thông
dịch viên phải được đào tạo để làm việc với trẻ em, bởi vì trẻ em sử dụng ngôn
ngữ và sự hiểu biết về tiếng mẹ đẻ của họ có thể khác so với người lớn. (Xem
Chương 23)
Bắt giữ
Việc bắt giữ một đứa trẻ phải là một biện
pháp cuối cùng. Việc tước quyền tự do của một đứa trẻ nên được tiến hành trong
thời gian thích hợp ngắn nhất.
Bất kỳ đứa trẻ bị bắt và
bị tước mất tự do phải được đưa ra trước một cơ quan có thẩm quyền trong vòng
24 giờ để kiểm tra tính hợp pháp của bị giam giữ.
Các nguyên tắc về công
bằng xét xử ở châu Phi kêu gọi trả tự do cho trẻ em trong vòng 48 giờ sau khi
bị bắt.
Tòa án châu Âu thấy rằng
Thổ Nhĩ Kỳ đã vi phạm quyền tự do và an ninh của một số trẻ em 16 tuổi, những
người đã bị một đơn vị cảnh sát giam giữ trong ba ngày và chín tiếng đồng hồ
trước khi được tiếp cận với một luật sư hoặc được đưa ra trước một thẩm phán.
Trong thời gian bị giam giữ này, họ bị tra vấn về việc tham gia vào các hoạt
động liên quan đến khủng bố.
Thông báo cho cha mẹ và sự tham gia của họ trong vụ án
Cha mẹ, người giám hộ hoặc người thân cần
được thông báo về vụ bắt giữ. Cơ quan giam giữ có trách nhiệm thực hiện các
biện pháp để đảm bảo rằng cha mẹ hoặc người giám hộ nhận được thông báo kịp
thời về sự bắt bớ của con em mình.
Cha mẹ hoặc người giám
hộ phải có mặt ở tất cả các giai đoạn tố tụng, kể cả trong thời gian thẩm vấn,
trừ khi sự hiện diện của họ không phải là lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ em có
thể tham khảo ý kiến một cách tự do và bí mật với cha mẹ hoặc người giám hộ
cũng như tư vấn pháp lý.
Ủy ban về quyền trẻ em
khuyến cáo rằng luật pháp nên cho phép sự tham gia tối đa có thể của cha mẹ
hoặc người giám hộ.
Trợ giúp pháp lý và các trợ
giúp khác
Trẻ em vi phạm pháp luật có quyền nhận hỗ
trợ pháp lý và hỗ trợ khác ở tất cả các giai đoạn của quá trình, kể cả trong
thời gian thẩm vấn của cảnh sát.
Theo Công ước về Quyền
trẻ em, trẻ em bị tước đoạt tự do được quyền nhận trợ giúp pháp lý và các hỗ
trợ khác ngay lập tức. Công ước về Quyền trẻ em đảm bảo trẻ em chưa bị tước mất
tự do nhưng bị nghi ngờ thực hiện các hành vi phạm tội, có quyền nhận trợ giúp
pháp lý và các hỗ trợ phù hợp khác trong việc chuẩn bị và bào chữa. Các tiêu
chuẩn cho phép trẻ em nhận được sự trợ giúp pháp lý của một luật sư. (Xem
Chương 3 và 20 về quyền tư vấn)
Trẻ em nên được tiếp cận
với trợ giúp pháp lý theo các điều kiện giống như người trưởng thành, hoặc với
các điều kiện khoan dung hơn. Các lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan
tâm chính trong việc cung cấp các trợ giúp pháp lý cho trẻ em. Trẻ em nên được
ưu tiên nhận trợ giúp pháp lý, nhất là những trẻ em bị giam giữ. Sự trợ giúp
pháp lý này nên dễ tiếp cận, thích hợp với độ tuổi, đa ngành, hiệu quả và đáp
ứng nhu cầu pháp lý và xã hội cụ thể của trẻ em. Các quốc gia cần thực hiện các
biện pháp để đảm bảo rằng luật sư nữ có mặt ở khắp nơi trong toàn quốc để cung
cấp trợ giúp pháp lý cho các bé gái.
Trẻ em nên luôn luôn
được miễn các biện pháp kiểm tra trong các quốc gia sử dụng biện pháp kiểm tra
để xác định điều kiện nhận trợ giúp pháp lý. Trợ giúp pháp lý cho trẻ em nên
được miễn phí.
Ủy ban chống tra tấn đã
chỉ trích thực tế ở nhiều quốc gia trẻ vị thành niên bị cảnh sát thẩm vấn mà
không có người giám hộ hoặc luật sư, và trong nhiều trường hợp sử dụng các biện
pháp bất hợp pháp, bao gồm đe dọa, hăm dọa và lạm dụng thể chất. Ủy ban này kêu
gọi cho phép trẻ em được nhận ngay trợ giúp pháp lý của một luật sư độc lập,
bác sỹ độc lập và một thành viên trong gia đình ngay từ khi chúng bị giam giữ.
Tòa án châu Âu phát hiện
ra rằng việc thẩm vấn một trẻ em 15 tuổi mà không có sự hiện diện của luật sư
và việc nhà nước không cho phép đứa trẻ tiếp cận luật sư trong giai đoạn đầu
của vụ án, vi phạm quyền được xét xử công bằng của cậu bé, vì độ tuổi của cậu
bé này, nhà nước không nên cho rằng cậu bé hiểu rõ quyền được tìm trợ giúp pháp
lý hoặc nhận thức được hậu quả nếu không có trợ giúp pháp lý. Tòa án này cũng
thấy rằng vì sự thất bại của luật sư trong việc bảo vệ thân chủ một cách hợp
lý, kết hợp với một số yếu tố khác như độ tuổi của đứa trẻ và độ nghiêm trọng
của cáo buộc, tòa án cần phải xem xét việc cung cấp hỗ trợ pháp lý ngay lập tức
cho bị cáo.
Tất cả thông tin liên
lạc bằng văn bản và bằng miệng giữa trẻ em và tư vấn pháp lý của họ sẽ diễn ra
trong điều kiện bảo đảm và tôn trọng bí mật.
Ngoài sự hỗ trợ của luật
sư, trẻ em bị giam giữ phải có quyền tiếp cận bác sĩ. Nhân viên xã hội, và
những người hỗ trợ cho trẻ em liên quan đến tố tụng hình sự, phải qua được đào
tạo để làm việc với trẻ em vi phạm pháp luật.
Nhiệm vụ cụ thể để chống lại việc tự buộc tội
Các quốc gia phải có các biện pháp đặc
biệt để đảm bảo quyền của trẻ em không bị ép buộc nhận tội hoặc tự buộc tội họ.
Những điều cấm chống lại cưỡng chế và ép buộc nên được hiểu một cách rộng rãi;
không chỉ giới hạn việc cấm sử dụng vũ lực (Xem Chương 16). Trẻ em có thể bị
dẫn dắt để thú nhận hoặc buộc tội mình vì tuổi tác và tình trạng phát triển,
tước quyền tự do, sự kéo dài của quá trình thẩm vấn, sự thiếu hiểu biết, sợ
những hậu quả không biết hoặc tù, hay lời hứa được áp dụng các biện pháp trừng
phạt nhẹ hơn hoặc được trả tự do.
Một đứa trẻ không nên bị
thẩm vấn, trừ khi có mặt một luật sư, và cha/mẹ hoặc người giám hộ. Trong số những
thứ khác, sự hiện diện của luật sư và cha/mẹ hoặc người giám hộ có thể giúp
ngăn chặn việc thú tội do bị cưỡng chế. (Xem Chương 3 phần 2 và Chương 9 phần
2- Quyền tư vấn trong quá trình thẩm vấn).
Tòa án châu Âu cho rằng
chỉ cảnh báo một nghi can tuổi vị thành niên về quyền giữ im lặng, và sau đó
tiến hành một cuộc thẩm vấn trong trường hợp không có người giám hộ và không
thông báo cho nghi can quyền được nhận trợ giúp pháp lý, không đủ để bảo vệ
quyền giữ im lặng.
Liên Mỹ Tòa án đã đưa ra
khả năng rằng Công ước châu Mỹ có thể ngăn cản các quốc gia dựa vào những lời
thú nhận của trẻ em về hành vi phạm pháp.
Các biện pháp bảo vệ
khác chống lại cưỡng chế tự buộc tội bao gồm giám sát độc lập các phương pháp
thẩm vấn để đảm bảo rằng các bằng chứng là tự nguyện và không bị ép buộc, cho
tổng thể của hoàn cảnh, và đáng tin cậy. Toà án phải xem xét độ tuổi của trẻ em
cũng như thời hạn tạm giữ và thẩm vấn và sự hiện diện của đại diện pháp luật
hoặc cha mẹ hoặc người giám hộ trong quá trình thẩm vấn. Hồ sơ về các buổi thẩm
vấn nên được ghi lại đầy đủ.
Ghi âm tất cả các
cuộc thẩm vấn nghi phạm (người lớn cũng như trẻ em) là yêu cầu của một số tiêu
chuẩn và được khuyến khích bởi một loạt các cơ quan về quyền con người (xem
Chương 9 phần 6 – Biên bản quá trình thẩm vấn, bao gồm ghi âm).
Quyền được thông tin về cáo
buộc và các quyền của nghi phạm
Trẻ em phải được kịp thời thông báo về
quyền của họ và cáo buộc chống lại họ. Cha mẹ cũng nên được thông báo. Thông
tin về cáo buộc và quyền phải được tiến hành theo cách phù hợp với lứa tuổi và
sự trưởng thành của trẻ.
Các quyền của trẻ em
được thông tin về bất kỳ cáo buộc nào bằng một ngôn ngữ mà họ hiểu và cũng có
thể yêu cầu “dịch” ngôn ngữ pháp lý chính thức thường được sử dụng trong các
trường hợp tội phạm để trẻ em có thể hiểu được. Cung cấp cho trẻ em một tài
liệu chính thức là không đủ: một lời giải thích bằng miệng có thể là cần thiết.
Đây là trách nhiệm của các cơ quan để đảm bảo rằng trẻ em hiểu về từng cáo buộc
mà chúng phải đối mặt. (Xem Chương 2 phần 3,4 và Chương 8 phần 4)
Quyền được lắng nghe
Trẻ em có quyền bày tỏ quan điểm của họ
một cách tự do về tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến chúng và được lắng nghe,
hoặc trực tiếp hoặc thông qua đại diện, trong bất kỳ thủ tục tố tụng tư pháp
hoặc hành chính.
Vì vậy, để trẻ em có thể
thực hiện quyền này một cách hiệu quả, chúng phải được thông báo về các vấn đề,
lựa chọn và quyết định có thể được thực hiện và hậu quả của việc đó bởi những
người có trách nhiệm nghe họ và cha mẹ hoặc người giám hộ.
Luật sư và các đại diện
khác nên thông báo cho trẻ em về quyền của chúng để xem xét, hoặc đã kiểm tra,
các nhân chứng (xem Chương 22). Trẻ em phải được phép bày tỏ quan điểm của
chúng về sự hiện diện và kiểm tra của các nhân chứng.
Quan điểm của trẻ em
phải được đánh giá phù hợp với lứa tuổi và sự trưởng thành của chúng. Vì quan
điểm của một đứa trẻ được xác định không chỉ theo độ tuổi, nó phải được đánh
giá trên cơ sở từng trường hợp cụ thể. Theo Ủy ban về quyền trẻ em thì “thông
tin, kinh nghiệm, môi trường, mong đợi của xã hội và văn hóa, và mức hỗ trợ tất
cả góp phần vào sự phát triển của năng lực của một đứa trẻ để tạo thành một
quan điểm.”
Quyền của trẻ em được
lắng nghe phải được thực hiện đầy đủ trong tất cả các giai đoạn của quá trình
tư pháp: từ giai đoạn trước phiên tòa đứa trẻ có quyền giữ im lặng, quyền được
lắng nghe bởi cảnh sát, công tố viên và thẩm phán điều tra, nếu có. Các quyền
này được áp dụng trong suốt quá trình, bao gồm xét xử, hòa giải, kết án, kháng
cáo và thực hiện các biện pháp áp đặt.
Nếu quyền của trẻ em
được lắng nghe bị vi phạm trong thủ tục tố tụng tư pháp hoặc hành chính, trẻ em
phải có quyền kháng cáo và khiếu nại các biện pháp khắc phục.
Giam giữ trước xét xử
Tước quyền tự do của một đứa trẻ, kể cả
trước phiên tòa, phải là một biện pháp cuối cùng và thực hiện trong thời gian
thích hợp ngắn nhất. Giải pháp thay thế tạm giam phải có sẵn và được khai thác
triệt để.
Đại hội đồng LHQ và Ủy
ban Nhân quyền đã kêu gọi các quốc gia hạn chế giam giữ trẻ em trước khi xét
xử.
Tòa án châu Âu cho rằng
việc giam giữ kéo dài một cá nhân (dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội
theo cáo buộc) trước khi xét xử trong các nhà tù dành cho người lớn vi phạm
Công ước Châu Âu, bao gồm cấm đối xử vô nhân đạo và hạ nhục.
Trong những trường hợp
đặc biệt khi có quyết định tạm giam trước phiên tòa một trẻ vị thành niên,
quyết định này phải bị xem xét.
Các quốc gia cũng phải
có luật xem xét sự cần thiết và tính phù hợp của việc giam giữ trẻ vị thành
niên trước phiên tòa, tốt nhất là xem xét mỗi hai tuần. (Xem Chương 6 phần 3)
Trẻ em bị tước quyền tự
do có quyền thách thức tính hợp pháp của việc bị giam giữ trước phiên tòa trước
một tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, độc lập và khách quan khác và có quyền
ra quyết định nhanh chóng trên bất kỳ thách thức nào. Trẻ em có quyền được hỗ
trợ bởi luật sư cho mục đích này. (Xem Chương 6)
Ủy ban về quyền trẻ em
đã tuyên bố rằng phán quyết về những thách thức như vậy phải được đưa ra càng
sớm càng tốt, và trong mọi trường hợp không muộn hơn hai tuần sau khi thách
thức được thực hiện.
Cũng giống như người
lớn, thời gian giới hạn cho phép để hoàn thành quá trình tố tụng hình sự thậm
chí còn ngắn hơn khi trẻ em bị tước đoạt tự do. (Xem Chương 7)
Tiến hành xét xử nhanh nhất
có thể
Trẻ em phải đối mặt với tố tụng hình sự có
quyền được đưa ra xét xử một cách nhanh nhất có thể, và các quyết định tố tụng
vị thành niên cần được thực hiện không chậm trễ. Thời gian giữa khởi tố và
quyết định cuối cùng của tòa án cần phải càng ngắn càng tốt. Thời gian kéo dài
lâu hơn thì nguy cơ phản ứng mất tác động mong muốn của mình, và càng có nhiều
đứa trẻ sẽ bị kỳ thị.
Khung thời gian để kết
thúc các vụ án chống lại trẻ em cần được ngắn hơn nhiều so với người trưởng
thành. Tuy nhiên, khung thời gian phải tôn trọng quyền của trẻ em, bao gồm đủ
thời gian và cơ sở vật chất để chuẩn bị và trình bày bào chữa.
Ủy ban về quyền trẻ em
đòi hỏi đưa ra một quyết định cuối cùng về vụ án không muộn hơn sáu tháng sau
khi vụ án được khởi tố.
(Xem Chương 8.1, thời
gian và cơ sở vật chất phù hợp để chuẩn bị một bảo vệ, Chương 7 bên phải bị
giam giữ ra xét xử trong một thời gian hợp lý, và Chương 19 về quyền được xét
xử không chậm trễ.)
Bảo mật trong quá trình tố
tụng
Trẻ em có quyền được tôn trọng sự riêng tư
của chúng ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự.
Điều này bao gồm trong
quá trình tiếp xúc đầu tiên của một đứa trẻ với cán bộ thực thi pháp luật.
Thông tin dẫn tới việc
xác định một đứa trẻ là nghi phạm hoặc bị cáo buộc đã phạm tội hình sự không
nên được công khai.
Để bảo vệ quyền riêng tư
của trẻ em, tòa án và các cơ quan khác nên tổ chức các phiên điều trần kín. Các
trường hợp ngoại lệ phải được quy định trong pháp luật. Hiến chương châu Phi về
quyền của trẻ em đòi hỏi các quốc gia ngăn cấm báo chí và công chúng tham dự
phiên xét xử trẻ em. Ủy ban về quyền trẻ em đã nhấn mạnh rằng quyền riêng tư
yêu cầu tất cả các chuyên gia tham gia vào việc thực hiện các biện pháp của tòa
án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền “bảo mật tất cả các thông tin mà có thể dẫn
đến việc xác định danh tính một đứa trẻ trong tất cả các liên lạc bên ngoài của
họ”.
Các hồ sơ của trẻ vị
thành niên phạm tội cần phải được giữ bí mật. Hồ sơ của trẻ vị thành niên không
nên được sử dụng trong thủ tục tố tụng của người người trưởng thành trong các
trường hợp tiếp theo liên quan đến cùng một người phạm tội và không nên được sử
dụng để tăng cường hình phạt trong bất kỳ thủ tục tố tụng của người trưởng
thành. Tên của trẻ vị thành niên cần được xóa bỏ khỏi các hồ sơ hình sự khi trẻ
đạt 18 tuổi.
Không được công bố công
khai thông tin có thể dẫn đến việc xác định danh tính một đứa trẻ đang có vấn
đề với pháp luật, để đề phòng bị kỳ thị và ảnh hưởng đến khả năng của đứa trẻ
trong việc học hành, tìm việc làm và nhà ở, hoặc cho lý do an toàn của đứa trẻ.
Sự riêng tư và dữ liệu cá nhân của một đứa trẻ tham gia vào thủ tục tố tụng tư
pháp hoặc không tư pháp và các can thiệp khác cần được bảo mật ở tất cả các
giai đoạn, và việc bảo mật như vậy cần được đảm bảo bằng pháp luật.
Thông báo quyết định
Quyết định của tòa án phải được truyền đạt
theo một cách để bảo mật sự riêng tư của trẻ vị thành niên và đứa trẻ có thể
hiểu được. (Xem Chương 24 – Kết án và Chương 25 phần 1- Trừng phạt). Vì trẻ em
có quyền có quan điểm về quyết định của tòa, những người ra quyết định phải
thông báo cho đứa trẻ về kết quả của quá trình này và giải thích quan điểm của
mình được xem xét như thế nào.
Kháng cáo
Trẻ vị thành niên, bị kết tội vi phạm luật
pháp, có quyền kháng cáo. Ủy ban về quyền trẻ em đã lưu ý rằng quyền khiếu nại
không giới hạn trong phần lớn những trường hợp nghiêm trọng nhất và đã kêu gọi
các quốc gia xóa bỏ những hạn chế về quyền này. (Xem Chương 26)
Giải quyết các trường hợp
Đối với trẻ vị thành niên vi phạm pháp
luật, nhà nước phải có những nỗ lực đáng kể để giúp chúng tái hòa nhập cộng
đồng và đóng một vai trò xây dựng và sản xuất trong xã hội.
Hình phạt không chỉ phải
tương xứng với hoàn cảnh và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhưng
cũng cần tính đến độ tuổi, tội nhẹ hơn, hoàn cảnh và nhu cầu của trẻ.
Sự trừng phạt nghiêm
không phù hợp với các nguyên tắc hàng đầu cho tư pháp dành cho trẻ vị thành
niên. Sự báo thù không phải là một yếu tố thích hợp trong một hệ thống tư pháp
dành cho trẻ vị thành niên.
Tước quyền tự do
phải là một phương sách cuối cùng. Biện pháp tước quyền tự do nên được áp dụng
hạn chế trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Mục đích việc tước quyền
tự do mang mục đích cải tạo tái hòa nhập cộng đồng.
phục hồi chức năng.
Điều kiện giam giữ phải phù hợp với độ
tuổi của trẻ em và tình trạng pháp lý. Nếu bị tước mất tự do, trẻ em phải được
giam giữ một nơi riêng biệt với nơi giam giữ người trưởng thành.
Các biện pháp thay thế,
bao gồm cả dẫn dòng và công lý phục hồi, cần được khuyến khích.
Cấm giam giữ trẻ em trong nhà tù cùng với người trưởng thành
Trẻ em bị tước quyền tự do phải được giam
giữ riêng biệt với tù trưởng thành ở mọi thời điểm, kể cả sau khi bị bắt giữ,
trong thời gian chờ xét xử hoặc đang chấp hành một bản án, trừ trường hợp đặc
biệt khi việc giam giữ riêng biệt trái với lợi ích tốt nhất của trẻ. Như Ủy ban
về quyền trẻ em nhấn mạnh “việc giam giữ trẻ em trong nhà tù của người trưởng
thành ảnh hưởng xấu đến sự an toàn của trẻ cũng như khả năng tái hòa nhập cộng
đồng.
Trong những trường hợp
ngoại lệ giam giữ trẻ em chung với người trưởng thành vì lợi ích của trẻ, phải
được suy xét thật kỹ. Ủy ban về quyền trẻ em cảnh báo rằng “lợi ích tốt nhất
của trẻ không đồng nghĩa với sự tiện lợi của nhà nước. Ủy ban châu Âu về ngăn
ngừa tra tấn lưu ý rằng “có thể có trường hợp ngoại lệ (ví dụ như trẻ em và cha
mẹ bị giam giữ chung trong trại tị nạn của người nhập cư), trong đó nó rõ ràng
là vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên không thể tách rời khỏi người
lớn trưởng thành. Tuy nhiên, giam giữ người chưa thành niên và người trưởng
thành không có quan hệ thân thích chắc chắn sẽ mang lại khả năng đứa trẻ bị
thống trị và khai thác.
Ủy ban Nhân quyền đã cho
rằng việc giam giữ trẻ em với người lớn vi phạm cả Điều 10 của ICCPR về tước
quyền tự do và quyền của trẻ em được hưởng các biện pháp đặc biệt bảo vệ, đảm
bảo tại Điều 24.
Ủy ban liên Mỹ cho rằng
việc giam giữ chung trẻ em và người trưởng thành trong các cơ sở đặc biệt vi
phạm Công ước châu Mỹ.
Tuân thủ việc cấm
giam giữ trẻ với người lớn và trong thực hiện các mục tiêu của tư pháp dành cho
trẻ vị thành niên, các quốc gia cần xây dựng cơ sở vật chất riêng biệt cho trẻ
em bị tước đoạt tự do, trong đó bao gồm nhân sự đặc biệt lấy trẻ làm trung tâm,
chính sách và thực tiễn.
Giải pháp thay thế việc
tước quyền tự do
Các quốc gia phải đảm bảo rằng có một loạt
các lựa chọn thay thế để giam giữ hoặc chăm sóc trẻ em vi phạm pháp luật hình
sự. Những lựa chọn thay thế nên bao gồm chăm sóc, hướng dẫn và giám sát, tư
vấn, quản chế, giám sát cộng đồng, trung tâm báo cáo hàng ngày, chăm sóc nuôi
dưỡng, chương trình giáo dục và đào tạo, và các lựa chọn thay thế khác để chăm
sóc về thể chế. Các biện pháp (được gọi là các khuynh hướng) nên nhằm mục đích
để đảm bảo rằng trẻ em được đối xử một cách thích hợp với tình trạng của chúng,
và tương ứng với hoàn cảnh và tội mà chúng đã phạm phải.
Bởi vì tái hòa
nhập vào xã hội là mục đích của hệ thống tư pháp, Ủy ban về quyền trẻ em đã
cảnh báo chống lại các hành động mà có thể cản trở sự tham gia đầy đủ của trẻ
em trong cộng đồng, như kỳ thị, cô lập xã hội hoặc sự công khai mang tính tiêu
cực.
Những hình phạt bị cấm
Án tử hình và các bản án tù chung thân
không có khả năng ân xá (hoặc tạm tha) có thể không được áp dụng cho hành vi
phạm tội của những người dưới 18 tuổi tại thời điểm tội phạm.
Việc cấm các bản án đó
là tuyệt đối: Công ước về Quyền trẻ em cấm áp dụng các hình phạt đó cho “hành
vi phạm tội do người dưới mười tám tuổi,” một công thức áp dụng cho cả các quốc
gia quy định độ tuổi trưởng thành sớm hơn.
ICCPR không cho phép vi
phạm điều cấm áp dụng hình phạt án tử hình cho người dưới 18 tuổi tại thời điểm
phạm tội. Ngoài ra, Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban liên Mỹ cho rằng việc cấm tử
hình trẻ em là bắt buộc trong luật pháp quốc tế, bắt buộc đối với tất cả các
nước và không cho phép miễn tuân thủ.
Sự khẳng định của một số
quốc gia rằng họ là phù hợp với luật pháp quốc tế nếu họ trì hoãn tử hình cho
đến khi một người chưa thành niên bước sang tuổi 18 là không phù hợp với luật
pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế quy định rõ ràng là tuổi của cá nhân tại thời
điểm xảy ra tội phạm có tính quyết định, chứ không phải tuổi khi xét xử, kết án
hay thực hiện các bản án.
Điều 7 của Điều lệ Ả Rập
dường như cho phép một ngoại lệ cho lệnh cấm này nếu được phép của pháp luật có
hiệu lực tại thời điểm xảy ra tội phạm. Tuy nhiên, tất cả các thành viên của
Điều lệ Ả Rập đều bị cấm áp dụng án tử hình cho bất cứ ai dưới 18 tuổi khi phạm
tội, vì họ cũng là thành viên của Công ước bảo vệ quyền trẻ em.
Nếu có nghi ngờ về việc
liệu một cá nhân là dưới 18 tuổi tại thời điểm tội phạm, cá nhân này phải được
coi là một đứa trẻ, trừ khi bên công tố chứng minh ngược lại.
Việc áp dụng tù chung
thân mà có khả năng ân xá cho cá nhân dưới 18 tuổi tại thời điểm tội phạm bị
cấm. Ngoài ra, Ủy ban về quyền trẻ em đã quan sát thấy rằng tất cả các hình
thức tù chung thân của một đứa trẻ, ngay cả khi được hưởng xem xét định kỳ và
khả năng trả tự do, làm khó cho việc thực thi nhữn mục tiêu của tư pháp dành
cho trẻ vị thành niên. Những mục tiêu này bao gồm trả tự do, tái hòa nhập, và
khả năng đảm nhận một vai trò xây dựng trong xã hội, đạt được thông qua giáo
dục, điều trị và chăm sóc. Theo đó, Ủy ban khuyến khích bãi bỏ tất cả các hình
thức tù chung thân cho hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi. Liên Mỹ Tòa án
đã cho rằng tù chung thân cho tội phạm trước 18 tuổi không phù hợp với mục đích
của tái hòa nhập xã hội của trẻ em và vi phạm Công ước châu Mỹ.
Ủy ban về xóa bỏ phân
biệt chủng tộc đã kết luận rằng việc thực hành ở Mỹ kết án chung thân không có
khả năng ân xá một người trẻ, kể cả trẻ em, vi phạm quyền được đối xử bình đẳng
trước tòa án, lưu ý rằng thực hành này có ảnh hưởng tiêu cực không tương xứng
với chủng tộc thiểu số và người da màu.
Nhục hình cũng bị cấm áp
dụng cho cả người trưởng thành và trẻ em. Hình phạt này vi phạm việc cấm tra
tấn và đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc làm nhục và không phù hợp với mục đích
của tư pháp dành cho trẻ vị thành niên. (Xem thêm Chương 25 phần 5- Cấm nhục
hình)
Các bản án khác có thể
coi là tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục cũng bị cấm. (Xem Chương 25 về xử phạt)
Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc và Hội đồng Nhân quyền, cũng như tiền thân của Ủy ban Nhân quyền, đã nhiều
lần kêu gọi các quốc gia không bắt trẻ em đang bị giam giữ phải lao động cưỡng
bức.
Nạn nhân và nhân chứng là
trẻ em
Việc đối xử với cho trẻ em là nạn nhân của
tội phạm hay nhân chứng trong tố tụng hình sự phải phù hợp với các quyền của
trẻ em được lắng nghe và trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
MỖI
QUỐC GIA TRÊN THỰC TẾ ĐÃ TỎ RA BÁM THEO TRÌNH TỰ XÉT XỬ CÔNG MINH NHƯ TRÊN, VN
CŨNG KHÔNG NGOẠI LỆ, HỌ ĐỀU CÓ THỂ Ử CÔNG MINH NHƯ TRÊN, VN CŨNG KHÔNG NGOẠI
LỆ, HỌ ĐỀU CÓ THỂ DIỄN DỊCH THEO CÁCH THỨC KHÁC NHAU NHƯNG ĐỀU PHẢI BÁM THEO CÁC
TRÌNH TỰ NÀY
Bản
dịch VŨ QUỐC NGỮ, HIỆU ĐÍNH LS. ĐẶNG
DŨNG
Comments
Post a Comment