NỀN TƯ PHÁP VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT CỦA VNCH

 

 Ls.NGUYỄN VẠN BÌNH

 

(Với sự góp ý của Thẩm Phán TRẦN AN BÀI , các Luật Sư NGÔ VĂN TIỆP và PHẠM NGỌC ANH)

 

     Việt Nam Cộng Hòa trước biến cố 30-4-1975 là một quốc gia theo chế độ tự do, dân chủ pháp trị. Hiến Pháp ngày 26-10-1956 của nền Đệ Nhất Cộng Hòa dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Hiến Pháp ngày 18-3-1967 của nền Đệ Nhị Cộng Hòa dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đều qui định tam quyền Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phân lập và độc lập với nhau.

     Lập Pháp do Quốc Hội điều hành có nhiệm vụ làm luật. Hành Pháp do Tổng Thống và nội các điều hành lo thi hành luật.Tư Pháp có hệ thống  Tòa Án do các thẩm phán điều hành phân xử những vụ vi phạm luật để bảo vệ an ninh trật tự quốc gia và quyền lợi của mọi người dân.Tất cả ba ngành đều có chung mục đích là duy trì trật tự quốc gia và phục vụ cho đất nước cùng toàn dân.

     Trong bài viết nầy, chúng tôi chú trọng sự tổ chức của nền Tư Pháp dưới thời VNCH.Việc tổ chức nầy có đôi chút khác biệt giữa hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà chưa có Tối Cao Pháp Viện mà chỉ có Tòa Phá Án.Tại các tỉnh lỵ nhỏ, dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa có Tòa Hòa Giải Rộng Quyền, tuy nhiệm vụ tương tựa như của Tòa Sơ Thẩm

     Trong bài nầy, chúng tôi nói sơ quát về  nền Tư Pháp dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa bao gồm hệ thống tổ chức các Tòa Án và thành phần nhân sự. Hy vọng qua bài viết nầy, các cựu sinh viên Luật Khoa và các độc giả sẽ hiểu biết hơn về hệ thống Tư Pháp của Miền Nam VN trước đây.VNCH được xem có một nền Tư Pháp tiến bộ trong một thể chế dân chủ tự do, hoàn toàn khác  với nền Tư Pháp của chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng Cộng Sản Việt Nam.

     Nền Tư Pháp của VNCH được đặt trên hai nguyên tắc căn bản là: mọi người được bình đẳng trước pháp luật và sự độc lập của thẩm phán xử án.

     Hiến Pháp nền đệ II Cộng Hoà năm 1967 qui định:

        Quyền Tư Pháp độc lập được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án.

     Mọi Tòa Án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm Phán Xử Án,Thẩm Phán Công Tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ.

      Thẩm Phán Xử Án và Thẩm Phán Công Tố được phân nhiệm rõ rệt và có qui chế riêng biệt.

      Thẩm Phán Xử Án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện.

      Thẩm Phán Công Tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp.

Tại quản hạt của mỗi Tòa Thượng Thẩm bên cạnh có một Luật Sư Đoàn. VNCH có hai Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và Huế, nên có hai Luật Sư Đoàn. Các luật sư thuộc Luật Sư Đoàn Sàigòn và Luật Sư Đoàn Huế có nhiệm vụ biện hộ cho các thân chủ giúp cho nền công lý được thực thi.

 

   I -TỔ CHỨC CÁC TOÀ ÁN

 

1-CƠ QUAN TÀI PHÁN TƯ PHÁP

 

1.1: TÒA VI CẢNH

        Tòa Vi Cảnh xét xử những vụ vi cảnh. Quyền công tố được giao cho chỉ huy trưởng cảnh sát sở tại. Nếu trong quản hạt có nhiều Bộ chỉ huy cảnh sát, Chưởng Lý sẽ  chỉ định một Chỉ Huy Trưởng cảnh sát đảm nhiệm chức vụ công tố. Tại những địa phương không có Tòa Vi Cảnh, các vụ vi cảnh sẽ do Tòa Sơ Thẩm xét xử tại một phiên tòa riêng hay cùng chung với phiên tòa tiểu hình. Trong phiên tòa  nầy sẽ có một Chánh Thẩm, một Phó Biện Lý và một Lục Sự.

        Nếu bị can chịu đóng tiền phạt điều đình theo đúng thời hạn thì công tố quyền sẽ bị tiêu diệt. Nếu bị can không chịu đóng tiền phạt theo thời hạn, tòa vi cảnh sẽ xét xử.

 

1.2: TÒA HOÀ GIẢI:

        Tòa Hòa Giải có tại các quận, phủ, huyện, đô thị hay tỉnh lỵ.Tại Tòa Hòa Giải có một Thẩm Phán Hòa Giải và một Lục Sự. Tòa có thẩm quyền xét xử các vụ về dân sự và thương sự. Về các vi phạm tiểu hình, thẩm phán hòa giải là cảnh sát tư pháp, phải chuyển hồ sơ và bị can lên toà Sơ Thẩm.

        Về dân sự, cần phân biệt:

        - Quyền tài phán phi tụng: hòa giải các vụ tương tranh dân sự và thương sự bất cứ giá ngạch bao nhiêu.

        - Quyền tài phán hữu tụng: hòa giải các vụ tương tranh dân sự và thương sự có giá ngạch tài chánh nhỏ nhoi. Xử chung thẩm, nếu giá ngạch vụ kiện không quá mười ngàn đồng (10.000$). Xử sơ thẩm nếu giá ngạch vụ kiện không quá ba mươi ngàn đồng (30.000 $).

 

   1.3: TÒA HÒA GIẢI RỘNG QUYỀN

     Tòa Hòa Giải Rộng Quyền được thiết lập tại các tỉnh lỵ nhỏ. Thẩm quyền xét xử như các Tòa Sơ Thẩm. Vì thiếu thẩm phán, nên tại các Tòa Hòa Giải Rộng Quyền chỉ có một Thẩm Phán trực thuộc thẩm quyền của Bộ Tư Pháp. Vị thẩm phán nầy đảm nhận luôn ba nhiệm vụ của Chánh Án, Biện Lý và Dự Thẩm.

 

1.4 :TÒA  SƠ THẨM:

         Dưới thời Đệ II Cộng Hoà, khi có khá đầy đủ các Thẩm Phán, các Tòa Hòa Giải Rộng Quyền được thay bằng các Tòa Án Sơ Thẩm.

        Đây là tòa án cấp tỉnh được được đặt tại các tỉnh lỵ, thị xã hay đô thành Sàigòn. Cũng có khi hai hay nhiều tỉnh mới có một Tòa Án Sơ Thẩm mà quản hạt gồm hai hay nhiều tỉnh ấy. Trước năm 1975 tại miền Nam VN có các tòa sơ thẩm Sài Gòn, Gia Định, Biên Hoà, Bình Dương, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá v.v..

        Tòa Sơ Thẩm có thẩm quyền giống Tòa Hòa Giải Rộng Quyền, chỉ có khác là Tòa Sơ Thẩm quan hệ  hơn và có Biện Lý Cuộc.

        Tòa Sơ Thẩm được điều hành gồm có một Chánh Án, một Biện Lý, một Dự Thẩm và một Chánh Lục Sự có nhiều lục sự và thư ký giúp việc.

        Nếu nhu cầu công vụ bắt buộc, Tòa Sơ Thẩm có thể có thêm một hay nhiều Chánh Án Dự Khuyết, Thẩm Phán hay Thẩm Phán phụ khuyết , một hay nhiều Dự Thẩm, một hay nhiều Phó Biện Lý.

           

A - Nhân Sự Điều Hành:

 

A.1-Chánh Án và các Thẩm Phán Tọa Xử:

     Các Thẩm Phán tọa xử gồm có Chánh Án, các Chánh Án dự khuyết, Thẩm Phán và Dự Thẩm. Trừ Dự Thẩm có nhiệm vụ thẩm cứu, Chánh Án và các Thẩm Phán tọa xử khác chủ tọa các phiên tòa và xử án .

     Hai công việc nặng nhất của Chánh Án là ký Án Lệnh phê đơn và xử cấp thẩm.

A.2:Biện Lý :

     Chức vụ Công Tố được giao cho Biện Lý có Phó Biện Lý phụ giúp.Phó Biện Lý chỉ hành động với sự uỷ quyền công nhiên hay mặc nhiên của Biện Lý.

     Về Hình Sự, Biện Lý có trách nhiệm tầm nã và truy tố các tội phạm về tiểu hình và đại hình đã xảy ra trong quản hạt. Biện Lý nhận các đơn thưa, tố cáo các vi phạm đến an ninh, trật tự quốc gia và đến tính mệnh, tài sản của tư nhân.

     Về Dân Sự, Biện Lý đứng chánh tố khi thay mặt cho con cháu để kiện ông, bà, cha, mẹ nếu không có trưởng tộc hay trưởng tộc từ chối.hay vắng mặt.Biện Lý đứng phụ tố trong các vụ kiện dân sự khác.

 

3-Dự Thẩm:

     Dự Thẩm được lựa chọn trong các Thẩm Phán xử  án Tòa Sơ Thẩm, có tối thiểu 5 năm  đảm trách nhiệm vụ thẩm phán. Dự Thẩm chuyên về việc thẩm cứu.Dự Thẩm có thể tự mình thụ lý trực tiếp các vụ vi phạm quả tang. Ngoài trường hợp nầy, Dự Thẩm chỉ thụ lý do Biện Lý yêu cầu bằng Khởi Tố Lệnh Trạng hay do đơn Khiếu Tố của  người bị thiệt hại đứng dân sự nguyên cáo. Nhưng đơn khiếu tố của người bị thiệt hại phải chuyển cho Biện Lý để lập Khởi Lệnh Trạng.

     Trong việc thẩm cứu, Dự Thẩm phải mở cuộc điều tra, hỏi nhân chứng, truy cứu bị can, hỏi cung bị can, mở cuộc giám định, khám nhà các bị can và tòng phạm, tịch thu tang vật v.v.…tức là làm tất cả mọi công việc để tìm ra bằng chứng của sự phạm pháp.

        Dự Thẩm cũng có thể tuyên Án Lệnh Từ Thẩm nếu quyển công tố bị tiêu diệt, nếu đã có đại xá, uy lực quyết tụng, vô thẩm quyền hay nếu các sự kiện không có tánh cách hình sự .

 

   B- Thẩm Quyền:

Tòa Sơ Thầm có thẩm quyền xử sơ thẩm về  Dân Sự và Hình Sự.

        Các việc kiện về Dân Sự như tranh chấp về động sản, bất động sản, bồi thường thiệt hại do sự phạm pháp gây ra, khánh tận, thừa tự v.v...

Về hình sự liên quan đến các vụ vi phạm về tiểu hình và đại hình.

Tòa Sơ Thẩm Tiểu Hình xử các tội tiểu hình.Tòa gồm có một Chánh Án hay một thẩm phán chủ tọa để xét xử. Biện Lý hay một Phó Biện Lý ngồi ghế Công Tố Viện để buộc tội và một Lục Sự giữ bút lục. Bị can có thể nhờ Luật Sư biện hộ. Tuy nhiên, trong trường hợp vì nhu cầu công vụ,  Chánh Nhất có thể cho phép Chánh Án đặc biệt uỷ nhiệm cho Dự Thẩm chủ toạ các phiên tòa tiểu hình.

        Tòa Tiểu Hình có thẩm quyền xét xử các việc kháng cáo của Tòa Vi Cảnh.

        Có những tội tiểu hình dành cho các tòa đặc biệt như Tòa Án Quân Sự hoặc Toà Thiếu Nhi thì Tòa Tiểu Hình không có thẩm quyền.

     Tòa Sơ Thẩm Đại Hình xử các tội đại  hình.Tòa gồm có một Chánh Án, hai Thẩm Phán PhụThẩm xử án.Công Tố Viện thì buộc tội.Lục Sự để ghi chép và giữ bút lục.

     Ngoài ra, tại các tòa án lớn  như ở thủ đô Sài Gòn và thành phố Huế, vì có nhiều vụ tranh tụng, nên Tòa Sơ Thẩm mở thêm các phiên toà chuyên biệt, nhưng thành phần của tòa vẫn là thành phần của Tòa Dân Sự. Đó là Tòa Thương Mại và Tòa Khẩn Cấp.

 

1.5 : TÒA ÁN THƯƠNG MẠI 

     Xét xử các vụ kiện về những hành vi thương mại và nghề nghiệp thương gia. Hành vi thương mại là những hành vi chế tạo,lưu chuyển ,trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp, còn thương gia là những người làm những hành vi thương mại cho chính mình và lấy những hành vi ấy làm nghề nghiệp thường xuyên của mình .

 

1.6 :TÒA KHẨN CẤP                                

     Nếu vụ tranh tụng cần được giải quyết một cách đặc biệt nhanh chóng, chánh án Tòa Khẩn Cấp có thể cho triệu hóan ngắn hạn bằng một Án Lệnh Phê Đơn đến phiên tòa hay tư dinh của chánh án bất cứ vào ngày giờ nào kể luôn những ngày lễ chính thức .                                                                                             

      Hoặc nếu chủ nợ nào có lý do sợ rằng tài sản của con nợ sẽ bị tiêu tán trước khi mình có chứng khoán chấp hành, có thể xin chánh án Tòa Khẩn Cấp (Cấp Thẩm) truyền Án Lệnh Khẩn Cấp  (Cấp Thẩm) để sai áp bảo toàn, sai áp chi phó ,ốp bộ đối với các  động sản và tiên chú đối với các bất động sản. Án Lệnh khẩn cấp chỉ quyết định tạm thời và không thể trong bất cứ trường hợp nào tiên phán đến chánh vụ và được đương nhiên thi hành tạm án văn trên nguyên bổn mặc dầu có kháng tố hay kháng cáo. Án lệnh khẩn cấp cũng ấn định thời hạn bắt buộc chủ nợ phải khởi tố trước tòa án có thẩm quyền để kiện về nội dung chánh vụ và xin xác  hiệu sự sai áp.

 

1.7 TÒA THƯỢNG THẨM

     VNCH có hai Tòa Thượng Thẩm.Tòa Thượng Thẩm Huế có quản hạt kéo dài từ Quảng Trị đến Nha Trang.Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn có quản hạt từ Phan Thiết đến Cà Mau.

Mỗi Tòa Thượng Thẩm có một Chánh Nhất, một hay hai Chánh Án Phòng và nhiều Hội Thẩm.

     Chức vụ công tố do Chưởng Lý đảm nhận và tùy theo nhu cầu có một hay hai Phó Chưởng Lý, một hay nhiều Tham Lý phụ giúp.

     Phòng Lục Sự do một Chánh Lục Sự cùng một số Lục Sự và thư ký giúp việc.

     Chánh Nhất:

     Chánh Nhất là vị chỉ huy tất cả các thẩm phán tọa xử không những tại Tòa Thượng Thẩm mà tại các tòa án trong quản hạt nữa.

Chánh Nhất Tòa TT Sài Gòn, Đinh Văn Huân

Chưởng Lý:

        Trong quản hạt của Tòa Thượng Thẩm, Chưởng Lý giữ nhiệm vụ Giám Đốc Sở Tư Pháp.Chưởng Lý được Tổng Trưởng Bộ Tư Pháp uỷ nhiệm việc tư pháp hành chánh trong quản hạt của mình.

     Công việc chính của Chưởng Lý là công việc chỉ huy Công Tố Viện.Chưởng Lý có quyền điều khiển tất cả Thẩm Phán Công Tố thuộc quản hạt Tòa Thượng Thẩm nơi mình cư ngụ.Tất cả quyền công tố được trao cho một mình Chưởng Lý.Phó Chưởng Lý và Tham Lý chỉ dự vào việc thi hành quyền công tố khi nào được Chưởng Lý uỷ quyền.

 

Thành Phần Tổ Chức:

     Mỗi Toà Thượng Thẩm được tổ chức gồm có: Phòng Nhất, Phòng Nhì và Phòng Luận Tội.

        Phòng Nhất (lo về Dân Sự):Do Chánh Nhất  chủ tọa có hai Hội Thẩm phụ lực xét xử các vụ kháng cáo các bản án Dân Sự và Thương Sự  do các Toà  Sơ Thẩm tuyên xử

        Phòng Nhì (lo về Hình sự): Do một Chánh Án Phòng chủ tọa có hai Hội Thẩm phụ lực xét xử các vụ kháng cáo các bản án hình sự do các Tòa Sơ Thẩm tuyên xử. Phòng Nhì có hai Ban:

     - Ban Tiểu Hình: chuyên xử kháng cáo các bản án tiểu hình

     - Ban Đại Hình: chuyên xử kháng cáo các bản án đại hình.Ban nầy gồm một chánh thẩm, hai thẩm phán phụ thẩm và có bốn phụ thẩm nhân dân (theo bộ Hình Sự Tố Tụng năm 1972). Phụ Thẩm Nhân Dân được chọn từ danh sách các thân hào, nhân sĩ.Danh sách nầy được lập hàng năm tại quản hạt mọi tòa đại hình.Các thân hào, nhân sĩ  này phải là công dân VN, đủ 30 tuổi, không có tiền án, không phải là nhân viên các cơ quan tư pháp, tu sĩ hay binh sĩ tại ngũ.Phụ Thẩm Nhân Dân được lãnh 3000 đồng cho mỗi ngày công tác.

     Phòng Luận Tội (lo về Thẩm Cứu): Do Chánh Nhất, Chánh Án Phòng hay một Hội Thẩm chủ tọa với hai Hội Thẩm phụ lực. Phòng Luận Tội có thẩm quyền:

Kiểm soát, đốc biện việc điều hành các phòng Dự Thẩm trong quàn hạt Toà Thượng Thẩm.

     Thẩm vấn các vụ đại hình

     Xét xử các kháng cáo Án Lệnh của Dự Thẩm

Chấp đơn xin khôi phục công quyền

     Khám xét các trại giam trong quản hạt

-  Kiểm soát hoạt động của các sĩ quan, nhân viên cánh sát tư pháp cùng các công chức dân chính và quân nhân thi hành nhiệm vụ hình cảnh lại về các tác vụ do các Dự Thẩm giao phó.

 

1.8 :TỐI CAO PHÁP VIỆN:

     Tối Cao Pháp Viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm Phán. Tối Cao Pháp Viện do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn bầu lên.

     Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện phải là những Thẩm Phán hay Luật Sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành Tư Pháp.

      Nhiệm kỳ của Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm

Thành phần cử tri thuộc Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn phải đồng đều

     Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh. Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể Cộng Hòa.

     Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện.

     Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm.

     Tối Cao Pháp Viện tổ chức các cuộc tuyển chọn và  điều hành các thẩm phán xử án.

     Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành Tư Pháp.

     Tối Cao Pháp Viện tọa lạc tại Dinh Gia Long thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước đây.

 

2-CƠ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÁNH

 

2.1:TÒA CẤP DƯỠNG

     Thẩm quyền xét xử các vụ khiếu nại về việc cấp dưỡng cho các thương binh hay thân nhân của các cựu chiến binh đã tử trận.

     Tại quản hạt mỗi Tòa Thượng Thẩm sẽ thiết lập một Tòa Sơ Thẩm Cấp Dưỡng gồm có một Chánh Án do Chánh Nhất bổ nhiệm.Một bác sĩ và một cựu chiến binh đang hưởng cấp dưỡng.Một Uỷ Viên Chính Phủ và và một Lục Sự.Phán quyết của Tòa Cấp Dưỡng sơ thẩm cũng có thể kháng cáo lên Tòa Thượng Thẩm Cấp Dưỡng.

 

2.2: TÒA ÁN HÀNH CHÁNH

 Tòa án Hành Chánh xử sơ thẩm:

       - Đòi bồi thường liên quan đến các pháp nhân hành chánh.

        - Các vụ kiện xin thủ tiêu các quyết nghị hành chánh có tánh cách cá nhân

        - Các vụ tranh tụng liên quan đến mọi cuộc tuyển cử hàng tỉnh, quận, xã.

        Tòa xử sơ thầm và chung thẩm các vụ kiện liên quan đến mọi vấn đề thuế trực thu và các thứ thuế đồng hoá với thuế trực thu.

 

 2.3:THAM CHÍNH VIỆN

     Quản hạt của Tham Chính Viện gồm toàn cõi miền Nam VN.Trụ sở đặt tại Sàigòn.

      Thành phần của Tham Chính Viện gồm có những cơ quan sau đây;

     -Một Ban Tài Phán

     -Một Ban Hành Chánh

     -Một Đại Hội Đồng Tham Chính Viện

     -Một phòng Tổng Thư Ký

     Nhân viên của Tham Chính Viện gồm có một Chủ Tịch, một hai hai Phó Chủ Tịch, một số cố vấn và Tham Nghị.Một Tổng Thư Ký có một hay nhiều thư ký trợ lực.

     Ban Tài Phán gồm có một Chánh Thẩm, hai Hội Thẩm và một Uỷ Viên Chính Phủ. Chánh Thẩm chọn trong hàng Chủ Tịch hay Phó Chủ Tịch. Hội Thẩm và Uỷ Viên Chính Phủ chọn trong hàng Cố Vấn.

     Ban Hành Chánh gồm có một Chủ Tịch, hai Cố Vấn, một số Tham Nghị nhiều hay ít tuỳ theo nhu cầu công vụ.

     Thẩm quyền của Tham Chính Viện gồm có:

- Phúc thẩm các bản án do toà án hành  chánh xử sơ thẩm .

- Xét xử các việc xin phá án các toà án hành chánh hay những pháp đình có tính cách hành chánh xử chung thẩm.

- Sơ và chung thẩm những việc xin thủ tiêu các quyết định hành chánh, cá nhân hay lập quy có những tỳ tích như lạm quyền, vô thẩm quyền, vi luật, không có lý do hay căn cứ vào lý do không

 

      3- CÁC TÒA ÁN ĐẶC BIỆT

 

3.1:TÒA ÁN THIẾU NHI:

        Tòa án Thiếu Nhi xét xử các thiếu nhi dưới 18 tuổi can tội tiểu hình hay đại hình.Tuy nhiên, trong trường hợp có đồng phạm hay đồng lõa 18 tuổi hay trên 18 tuổi, tòa án Sơ Thẩm có thẩm quyền xét xử, nhưng phải áp dụng luật nầy cho thiếu nhi dưới 18 tuổi.

        Tòa án Thiếu Nhi được đặt tại Sài Gòn và Mỹ Tho trong quản hạt Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và đặt tại Nha Trang và Huế trong quản hạt của Tòa  Thượng Thẩm Huế .

        Vị thành niên 13 tuổi hay dưới 13 tuổi không thể bị phạt tù.

        Chánh án Tòa Án Thiếu Nhi có thể kiêm nhiệm chức vụ Dự Thẩm. Dự Thẩm phải thông báo cho cha mẹ, người giám hộ việc truy tố đứa trẻ.Dự Thẩm phải yêu cầu Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn chỉ định luật sư biện hộ, nếu gia đình đứa trẻ chưa chọn được luật sư. Nếu vi phạm điều nầy, thủ tục sẽ vô hiệu.

        Mỗi vụ thiếu nhi được xử riêng, can phạm các vụ án khác không được có mặt trong phiên xử. Chỉ được dự phiên tòa, các nhân chứng, các thân thuộc của đứa trẻ, luật sư, đại diện các cơ quan lo về thiếu nhi và những người Tòa xét cần có mặt.

        Cấm tường thuật cuộc tranh luận trước Toà án Thiếu Nhi trên các sách, báo, truyền thanh, truyền hình.

        Thành phần thẩm phán của Tòa Thiếu Nhi như sau:

- Cấp sơ thẩm tiểu hình: gồm 1 Thẩm phán làm chánh án.

- Cấp thượng thẩm tiểu hình: gồm 1 Hội Thẩm làm chánh án và

 

2 thẩm phán làm phụ thẩm.

- Cấp sơ thẩm đại hình: gồm có 1 thẩm phán làm chánh án và 2 phụ thẩm nhân dân.

- Cấp thượng thẩm đại hình: gồm có 1 Hội Thẩm làm Chánh Thẩm và 2 phụ thẩm nhân dân. Phụ thẩm nhân dân là những người am hiểu vấn đề thiếu nhi hoặc hoạt động trong các cơ quan cứu trợ thiếu nhi.

 

3.2:TÒA ÁN NHÀ PHỐ

     Thẩm quyền xét xử các vụ tương tranh giữa người chủ cho thuê và người thuê nhà hay chiếm ngụ ngay tình nhà để ở hay để dùng về thủ công nghệ hay nghề nghiệp.

     Những án của Tòa Nhà Phố cũng có thể kháng cáo lên Tòa Thượng Thẩm như án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm. Về thượng tố, các án nầy cũng  theo như thủ tục cho các án dân sự.

 

3.3 :TÒA ÁN LAO ĐỘNG

     Trong việc tổ chức nền Tư Pháp của VNCH còn cho thiết lập thêm các Tòa Án Lao Động xét xử các vụ tranh tụng về lao động giữa chủ nhân và nhân công trong khi thi hành khế ước lao động.

 

3.4 :TÒA ÁN ĐIỀN ĐỊA

     Tòa Án Điền Địa xét xử các vụ vi phạm và tranh tụng xảy ra nhân khi thi hành chính sách cải cách điền địa.

 

3.5 : TÒA  ÁN SẮC TỘC:

     Toà án Sắc Tộc xét xử các vụ kiện liên quan đến đồng bào thiểu số.

 

 3.6: TÒA ÁN QUÂN SỰ

     Tòa Án Quân Sự được thiết lập tại Sài Gòn , Nha Trang và Huế. Quản hạt Tòa Án Quân Sự  tại Sài Gòn gồm các tỉnh Nam Phần, Quản hạt  Tòa Án Quân Sự tại Nha Trang là các tỉnh Cao Nguyên Trung Phần, Quản hạt Tòa Án Quân Sự tại Huế là các tỉnh Trung Nguyên Trung Phần.

     Thẩm quyền xét xử các quân nhân vi phạm những điều ghi trong Bộ Quân Luật cùng các tội vi phạm đến người và tài sản cũng như liên quan đến an ninh trật tự công cộng.

     Thành phần Tòa Án Quân Sự  gồm có :

-Chánh thẩm là một Sĩ quan cấp tá trở lên có bằng cử nhân Luật .

- Một Phụ Thẩm Hành Chánh là Đô Trưởng hay Tỉnh Trưởng hay Thị Trưởng nơi tòa nhóm họp.

- Một Phụ Thẩm Quân Sự là một sĩ quan cấp tá trở lên.

- Uỷ viên Chánh Phủ là sĩ quan cấp tá trở lên và một hay nhiều Phó Uỷ Viên Chánh Phủ là sĩ quan cấp tá .

     Chánh Thẩm, Phụ Thẩm Quân Sự, Uỷ Viên Chánh Phủ sẽ do Bộ Trưởng Quốc Phòng hay Phụ Tá Bộ Trường Quốc Phòng bổ nhiệm.

-Phòng Lục Sự sẽ do một Lục Sự Trưởng điều khiển với sự giúp đở của một số Lục Sự và thư ký

Các phán quyết của Tòa án Quân Sự  là chung thẩm.

 

  3.7: TÒA ÁN QUÂN SỰ MẶT TRẬN

     Tòa Án Quân Sư Mặt Trận được thiết lập tại mỗi vùng chiến thuật I, II, III, IV.

     Tòa có thẩm quyền xét xử các tôi phạm bị bắt quả tang trong suốt thời gian có tình trạng khẩn cấp tại lãnh thổ vùng chiến thuật.

     Xét xử các quân nhân phạm tội tiểu hình hay đại hình được qui định trong Bộ Quân Luật, Bộ Hình Luật và các luật lệ hiện hành khác

     Xét xử các thường dân xâm phạm tội an ninh quốc gia.

Phán quyết của Toà án Quân Sự Mặt Trận là chung thẩm. Mọi phương thức kháng án khác không áp dụng. Bản án sẽ được thi hành ngay sau khi tuyên án nếu không phải là án tử hình.Nếu là án tử hình, mặc dầu có đơn hay không có đơn xin ân xá của phạm nhân, Uỷ Viên Chính Phủ  phải lập đơn Ân Xá trong thời hạn 10 ngày lên Tổng Thống thẩm định.

     Thành phần Tòa Án Quân Sự Mặt Trận gồm có:

-1 Chánh Thẩm thực thụ và 1 Chánh Thẩm dự khuyết là những sĩ quan có cấp bậc đại tá trở lên được tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng. Chánh Thẩm phải có cấp bậc trên bị can là 2 cấp.

- 4 Phụ Thẩm: được tuyển chọn trong các sĩ quan, hạ sĩ quan tại vùng chiến thuật liên hệ.

-1 Uỷ Viên Chính Phủ hay 1 hay nhiều Phó Uỷ Viên Chính Phủ giữ nhiệm vụ công tố viện.

- 1 hay nhiều sĩ quan lục sự.

     Uỷ Viên Chính Phủ, Phó Uỷ Viên Chính Phủ và Lục Sự được bổ nhiệm do Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng theo đề nghị của Nha Quân Pháp.Uỷ Viên Chính Phủ được quyền chỉ định một công dân có bằng cử nhân luật hay có khả năng về luật học để bào chữa cho bị can.

 

II- CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT

 

ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN

     Đặc Biệt Pháp Viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện và các Giám Sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.

     1- Đặc Biệt Pháp Viện do Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện giữ chức Chánh Thẩm và gồm năm (5) Dân Biểu và năm (5) Nghị Sĩ.

     2- Khi Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện là bị can, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện giữ chức Chánh Thẩm.

        Đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.

Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.

Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết.

 

     Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số nhân viên.

 

     Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố.

 

     Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các tòa án có thẩm quyền.

 

GIÁM SÁT VIỆN

     Giám Sát Viện có thẩm quyền :

- Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.

- Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.

- Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỉ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện.

-  Riêng đối với Chủ Tịch Giám Sát Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách.

- Giám Sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền.

- Giám Sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra.

     Thành phần Giám Sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) Giám Sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc Hội, một phần ba (1/3) do Tổng Thống và một phần ba (1/3) do Tối Cao Pháp Viện chỉ định.

     Giám Sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ.

     Giám Sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.

 

KẾT LUẬN:

        Nền Tư Pháp của VNCH được phân định độc lập với hai cơ quan Lập Pháp và Hành Pháp.Cơ quan Tư Pháp có thẩm quyền xét xử các vụ vi phạm luật pháp.Mục đích của nền Tư Pháp VNCH là đem lại công lý cho mọi người.Chính vì thế, mọi người dân được bình đẳng trước pháp luật và các thẩm phán xét xử, các luật sư biện hộ luôn giữ được sự độc lập.

        Trong một vụ kiện tranh tụng, Công Tố Viện nắm quyền truy tố, Dự Thẩm lo về điều tra, thẩm cứu,Luật Sư biện hộ và cuối cùng Thẩm Phán Xử Án ra phán quyết. Chính vì vậy, tránh được nhiều bản án độc đoán và sai lầm.

        Trái với chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, các thẩm phán và ngay cả các luật sư không có quyền độc lập thi hành chức vụ mà lệ thuộc vào sự chỉ đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam.Tất cả các bản án đã được Đảng ấn định sẵn, nên vai trò biện hộ của luật sư trở thành vô nghĩa, chỉ còn là trang trí cho chế độ độc tài.Do đó, các phiên xử  diễn ra như một vỡ tuồng thật lố bịch. Chánh Án, Viện Kiểm Soát chỉ biết thi hành lệnh của Đảng, bất chấp luật lệ và mọi lời biện hộ của Luật Sư.

        Dưới chế độ VNCH, nền tư pháp có mục đích đem lại Công Lý cho mọi người.Vì thế, chế độ VNCH luôn tránh cho mọi người dân cảnh bị kết án và ngồi tù oan uổng. Trái lại, dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam thì nền tư pháp chỉ phục vụ cho quyền lợi của Đảng.Do đó, khi người dân và nhiều nhà ái quốc bày tỏ thái độ và hành động yêu nước chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng, bảo vệ lãnh thổ đã bị các thẩm phán bù nhìn tuyên án thật nặng nề. Họ bị kết án, chỉ vì họ có những tư tưởng hay hành động tuy phù hợp với bản Hiến Pháp, nhưng chống lại quyền lợi của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.Thật nực cười, khi cương lĩnh của đảng Cộng Sản Việt Nam lại ngồi xổm trên bản Hiến Pháp của cả nước  !./. 

                           

              NGUYỄN VẠN BÌNH

Ngyên luật sư tại Sài gòn trước năm 1975

 

GHI CHÚ:

- Tham khảo các bản văn về Tổ Chức Nền Tư Pháp của Bộ Tư Pháp VNCH.

- Hiến Pháp đệ I năm 1956 và đệ II năm 1967 của VNCH

  

Comments

Popular posts from this blog

THÔNG BÁO Về Đặc San Luật Khoa 2025 cập nhật.

Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán 0

CÂU KẠC BỘ LUẬT KHOA VIỆT NAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI ẤT TỴ 2025