NGHIÊN CỨU LUẬT PHÁP: Bằng chứng lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
NGHIÊN CỨU LUẬT PHÁP:
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Bài
đã được xuất bản.: 18/06/2011 05:00 GMT+7
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-17-bang-chung-lich-su-chu-quyen-cua-viet-nam-o-hoang-sa-truong-sa
Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ
và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê
Quý Đôn viết vào năm 1776.
Việt Nam có bờ biển dài, với vùng biển
rộng. Biển và đảo suốt tiến trình lịch sử luôn luôn giữ vị trí trọng yếu trong
đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Từ thời kỳ tiền sử cho đến
ngày nay, con người ở các vùng nội địa Việt Nam liên tục tiến ra chiếm lĩnh,
khai phá, sinh cơ lập nghiệp trên các đảo, quần đảo. Bắt đầu từ các thời Lý - Trần - Lê, Biển Đông đã trở
thành chiến lược phát triển của quốc gia Đại Việt. Con đường mở mang bờ cõi
xuống phía nam của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời là con đường tiến ra chiếm
lĩnh biển, đảo. Đây chính là cơ sở hết sức quan trọng, một bước chuẩn bị thiết
yếu để trong bối cảnh lịch sử mới, các chính quyền Đàng Trong đã thực hiện được
kỳ tích tuyệt vời là xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
1. TỔ CHỨC CÁC ĐỘI HOÀNG SA VÀ BẮC HẢI,
HÌNH THỨC ĐỘC ĐÁO DUY NHẤT CỦA QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC
VÙNG QUẦN ĐẢO NGOÀI BIỂN ĐÔNG TRONG CÁC THẾ KỶ XVII-XVIII
Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ
và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lụccủa nhà bác học Lê
Quý Đôn viết vào năm 1776. Sách chép: "Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã
An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré...; phía ngoài nữa lại có đảo
Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội
Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải....
Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất,
lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi,
mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm
thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu,
như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì,
súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải
ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều.
Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến
thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc
vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về... Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải,
không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã
Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các
tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các
đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải
sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản...
Tôi
đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu
gửi cho Thuận Hoá nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã
An Vĩnh đội Cát Liềm (Cát Vàng?) huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam
ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm,
chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở
đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu (Nguyễn Phúc Khoát?) sai
cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu làm thư trả lời" [1].
Như vậy, thông qua một hệ thống các tư
liệu gốc, khách quan, xác thực và có giá trị sử liệu cao, Lê Quý Đôn đã giớí
thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng
như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải. Đại
Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê Trịnh
biên soạn, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không
khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Ý nghĩa củaĐại Việt sử ký tục biên chính là nó đã
biến ghi chép khoa học, khách quan của Lê Quý Đôn thành một nội dung của bộ
Quốc sử, chuyển tinh thần cơ bản của bản chép tay của Lê Quý Đôn thành bản khắc
in chính thức trên danh nghĩa quốc gia. Đại Nam thực lục Tiền biên là phần đầu
bộ chính sử của triều Nguyễn được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm
1844, có đoạn mô tả Vạn Lý Trường Sa và các đội Hoàng Sa, Bắc Hải không khácPhủ
Biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.
Toàn tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo soạn
năm 1686, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi
Cát Vàng và ghi chú rõ mỗi năm đến tháng cuối đông Chúa Nguyễn đưa 18 chiếc
thuyền đến đó nhặt vàng bạc. Khoảng một thập kỷ sau, vị Hoà thượng Trung Quốc
Thích Đại Sán sau khi sang Đàng Trong, trên đường trở về nước đã mô tả khá chi
tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: "các Quốc vương [Chúa Nguyễn]
thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc
khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào"[2].
Thật ra từ thế kỷ XVI trở về trước, các
nhà hằng hải phương Tây đã có nhiều ghi chép và bản đồ xác định vùng quần đảo
giữa Biển Đông là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Chămpa) hay Pulo Capaa (Đảo của
Chămpa)[3] và đoạn bờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm (Quảng
Nam) đến cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi) được gọi là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng
Sa)[4]. Như thế từ rất lâu đời các nhà hằng hải phương Tây đã coi các quần đảo
giữa Biển Đông có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển Đàng Trong.
Bước sang thế kỷ XVII, số lượng tầu thuyền
của người phương Tây đi đến vùng biển này thường xuyên hơn và nhận thức của họ
về các quần đảo giữa Biển Đông cũng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu
chép đến các vụ đắm tầu ở Paracel được người Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi
đưa các nạn nhân về Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền
giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá tiền bạc trên các tầu bị đắm ở Hoàng
Sa. Chính vì thế mà vào năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tầu Amphitrite
khẳng định: "Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam"[5].
Như thế các tư liệu đương đại của cả Việt
Nam, Trung Quốc và phương Tây thế kỷ XVII đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống
nhất về sự hiện diện của đội Hoàng Sa.
Tuy nhiên cũng cần phải xác định rõ trong
thế kỷ XVII, đội Hoàng Sa được đề cập đến sớm nhất vào thời điểm nào và trong
nguồn sử liệu nào?
Sử sách nhà Nguyễn đều chép thống nhất đội
Hoàng Sa được tổ chức ngay từ thuở quốc sơ,tức là từ thời các Chúa Nguyễn đầu
tiên. Tuy nhiên sách cũng không xác định rõ là Nguyễn Hoàng hay Nguyễn Phúc
Nguyên hoặc Nguyễn Phúc Lan...? Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây xã
Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày
15/Giêng/1775, do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh đứng tên xin
chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: "Nguyên xã chúng tôi xưa có hai
đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn
xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số
đinh 30 người...".
Tư liệu cho phép suy đoán lúc đầu chúa
Nguyễn chỉ cho tổ chức một đội Hoàng Sa 70 suất, sau lập thêm đội Quế Hương và
đến năm 1631 lại có thêm hai đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm 30 suất
nữa.Năm 1636, nguời Hà Lan đã đuợc phép mở một thuơng điếm ở Hội An, dưới
quyền điều hành của Abraham Duijcker. Ngày 6-3, tại Hội An chúa Thượng Nguyễn
Phúc Lan đã tiếp Duijcker và nhân đó, Duijcker khiếu nại việc "chiếc tàu
mang tên Grootenbroeck bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã được
các người Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nhưng đồng thời cũng lấy đi tổng số
tiền là 25.580 réaux". Ông có nhiệm vụ xin được bồi hoàn số tiền đó.
Chúa Nguyễn Phúc Lan cho rằng "những
việc đó đã được xảy ra từ thời chúa trước (tức chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên),
không nên đề cập đến nữa, ngược lại, người Hà Lan từ nay sẽ được hoàn toàn
tự do mang hàng hoá đến buôn bán, được miễn thuế, vả lại, sau này nếu có tàu
Hà Lan bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá được cứu
hộ nữa". Phải chăng những người Việt cứu giúp tầu Grootenbroeck bị đắm ở
Hoàng Sa nói trên chính là người của đội Hoàng Sa, và như vậy càng có cơ sở để
khẳng định đội Hoàng Sa chí ít đã xuất hiện từ đầu những năm 30 của thế kỷ
XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635).
Bước sang thế kỷ XVIII, hoạt động chủ
quyền của chúa Nguyễn ở các vùng quần đảo giữa biển Đông càng trở nên nhộn nhịp
thu hút sự chú ý nhiều người trong nước và nước ngoài. Tư liệu về chủ quyền của
Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh các tài liệu chính thức của nhà
nước, của các địa phương còn có những ghi chép của các thương nhân, giáo sĩ,
các nhà quân sự, các phái bộ ngoại giao nước ngoài và các học giả trong ngoài
và nước.
Cũng đúng vào năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết
sách Phủ biên tạp lục khảo tả rất cụ thể về vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng
Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa, thì ở quê
hương của đội Hoàng Sa, dân phường Cù Lao Ré làm đơn nói rõ đội Hoàng Sa đã có
lịch sử lâu đời và bên cạnh chức năng thu lượm hoá vật, hải vật còn có nhiệm vụ
chiến đấu bảo vệ an toàn vùng biển đảo: "Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có
hai đội Hoàng Sa và Quế Hương... Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế
Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt
thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba,
đồi mồi được bao nhiêu dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến,
chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại
xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp..."[6].
Không chỉ thống nhất với các nguồn tư liệu
chính thức của Nhà nước mà nguồn tư liệu này còn gắn liền với các di tích và
truyền thuyết ở địa phương như miếu Hoàng Sa, những bến bãi đội Hoàng Sa xuất
phát, thậm chí cả những ngôi mộ giả, những nghĩa địa giả với những nghi lễ hết
sức đặc biệt của làng quê đưa tiễn những người con quả cảm của mình đi làm
nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa, nguyện dấn thân vào cõi chết vì một vùng biển
đảo thiêng liêng của Tổ quốc: "Hoàng Sa đi có về không; Lệnh vua sai phái
quyết lòng ra đi".
Nguồn: Báo Giác Ngộ
2. TRIỂN KHAI HÀNG LOẠT CÁC HÌNH THỨC
THỰC THI CHỦ QUYỀN Ở CẢ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TRONG GẦN TRỌN THẾ KỶ XIX.
Dưới thời Nguyễn, những ghi chép về Hoàng
Sa, Trường Sa phong phú, đa dạng với nhiều thông tin cụ thể trên cả hai khu vực
tài liệu chính thức của vương triều và tài liệu của các học giả.Bộ sách đồ sộ
và có nhiều thông tin hơn cả về Hoàng Sa, Trường Sa là bộ Đại Nam thực lục
Chính biên. Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long đã nhiều lần quan
tâm đến việc kiểm tra, kiểm soát Hoàng Sa được sách ghi lại như: "sai mộ
dân ngoại tịch lập làm đôi Hoàng Sa" năm 1803; "sai đội Hoàng Sa là
bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển" năm 1815 và năm
1816; nhận địa đồ đảo Hoàng Sa từ thuyền Mã Cao năm 1817...
Nhưng hoạt động thực thi chủ quyền ở Hoàng
Sa, Trường Sa của Việt Nam đã phát triển lên trình độ cao hơn dưới thời trị vì
của vua Minh Mệnh. Năm 1833, ông lập kế hoạch phái người ra Hoàng Sa dựng miếu,
lập bia và trồng cây. Các năm 1834, 1835, ông cho người ra dựng miếu, đền thờ
thần, lập bia đá và xây bình phong ở khu vực toà miếu cổ. Năm 1836, ông quyết
định hàng năm phái người ra Hoàng Sa xem xét, đo vẽ tỉ mỉ và lập thành bản đồ
các đảo, hòn, bãi cát. Khi ra đo đạc ngoài Hoàng Sa đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật
đã mang theo 10 bài gỗ, trên mặt khắc dòng chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính
Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa
trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ".
Liên
tục từ năm 1834 đến năm 1839 vua Minh Mệnh thưởng công cho những người đi vẽ
bản đồ ở ngoài đảo Hoàng Sa về. Đối với những người không may gặp gió bão ngoài
biển mà bảo toàn tính mạng trở về cũng có thưởng; còn những người không hoàn
thành nhiệm vụ tuần phòng ngoài biển thì bị phạt nặng...Bên cạnh Đại Nam thực
lục Chính biên, dưới thời Minh Mệnh, Quốc sử quán còn được giao nhiệm vụ biên
soan bộ Minh Mệnh chính yếu, trong đó quyển 25 có chép nhiều vụ tầu đắm ở ngoài
Biển Đông, trôi dạt vào bờ đã được cứu giúp chu đáo. Chẳng hạn vào năm 1836
thuyền buôn nước Anh gặp gió bão ở Hoàng Sa, tạm ghé vào hải phận tỉnh Bình
Định, đã được nhà vua "sai quan tỉnh tuyên cáo chỉ dụ của triều đình cho
họ nghe, đồng thời mở cuộc phát chẩn...".
Điều này không chỉ nói lên lòng nhân đạo
cao cả của người Việt, mà quan trọng hơn chính là nghĩa vụ, trách nhiệm cứu hộ
trên biển của Nhà nước và cư dân Việt Nam với tư cách là chủ nhân của vùng biển
đảo này.Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
là bộ sách do triều thần nhà Nguyễn vâng mệnh vua ghi chép những việc làm của
triều đình thuộc lục bộ về điển chương, pháp luật.... được hoàn thành trong
khoảng thời gian từ năm 1843 đến năm 1851.
Trong sách có đoạn chép về việc lập miếu,
dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và khảo sát, đo vẽ bản đồ toàn bộ khu vực, về cơ
bản không khác so với Đại Nam thực lục Chính biên. Quốc triều chính biên toát
yếu là bộ sử trích các phần quan yếu của Đại Nam thực lục Chính biên, trong đó
quyển III có các đoạn chép về việc xây miếu và dựng bia, đo vẽ bản đồ và việc
cứu hộ tầu Anh bị mắc cạn ghé vào bãi biển Bình Định. Lịch triều hiến chương
loại chí của Phan Huy Chú là bộ bách khoa thư lớn nhất của thế kỷ XIX, được
hoàn thành vào năm 1821 có phần Dư địa chí chép về bãi Hoàng Sa và đội Hoàng Sa
cũng giống như Phủ biên tạp lục.
Việt sử cương giám khảo lược là bộ sách địa
lý lịch sử của Nguyễn Thông chép về Vạn Lý Trường Sa ngoài những đặc điểm địa
lý, tự nhiên và dấu tích của người Việt Nam trên đảo Hoàng Sa, ông còn nói khá
cụ thể về đội Hoàng Sa như việc tuyển đinh tráng các xã An Vĩnh, An Hải, thời
gian tồn tại của đội Hoàng Sa... Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán thời Tự
Đức biên soạn từ năm 1865 đến năm 1882. Hoàng Sa, Trường Sa được giới thiệu
trong quyển 8 (tỉnh Quảng Ngãi) phỏng theo Phủ biên tạp lục và những tư liệu
tập hợp được trong Đại Nam thực lục.
Riêng
đoạn cuối sách cung cấp thêm: "Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở
gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các
thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang
sắt có đến hơn 2000 cân".Nhiều công trình chuyên khảo hay những ghi chép
khách quan của các quan chức, học giả đương thời khác cũng cung cấp thêm những
thông tin có giá trị. Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng cũng chép "đảo
Hoàng Sa (ở giữa bể, thuộc huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), dài rộng vài nghìn
dặm). "Bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa của Lý Văn Phức có một đoạn chú
dài viết khá cụ thể về khu vực biển đảo mà chính tác giả suýt mắc nạn.
Theo nguồn tài liệu này thì ngay từ đầu
thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã từng thuê các thuỷ thủ dày dạn kinh nghiệm và các
phương tiện kỹ thuật hiện đại của phương Tây trực tiếp dẫn dắt một số con
thuyền vượt Biển Đông. Điều này cũng góp phần giải thích bản đồ khu vực biển
đảo của Việt Nam tuy vẫn giữ phong cách vẽ truyền thống, nhưng đã sớm cập nhật những
thông tin mới và độ chính xác cao của bản đồ hằng hải các nước phương Tây đương
đại. Cũng thuộc nguồn tài liệu thư tịch và có giá trị cao để khẳng định quá
trình các Nhà nước Việt Nam dưới thời Nguyễn thực thi chủ quyền của mình ở
Hoàng Sa và Trường Sa là các Châu bản triều Nguyễn.
Qua nghiên cứu khảo sát 144 tập của hai
triều Minh Mệnh và Thiệu Trị, chúng tôi tìm ra được một số tư liệu là bằng
chứng rõ ràng về quá trình thực thi chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt
Nam ở hai quần đảo này như bản dụ của vua Minh Mệnh (13/7/1835 và 13/7/1837) về
các đoàn đi công vụ ở Hoàng Sa; các bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng về việc thuyền
của Pháp mắc cạn ở Hoàng Sa (21/6/1830); các bản tấu của Bộ Công về việc phạt
những người đi Hoàng Sa không lập xong bản đồ (13/7/1837), về việc phái đoàn
công vụ lên đường ra Hoàng Sa nhưng do gặp gió lớn mà không xuất phát được...
Đặc biệt có tờ tấu của Bộ Công (21/6 /1838) cho biết đoàn khảo sát Hoàng sa trở
về báo cáo đã đến được 25 đảo (trong 3 sở), còn 1 sở hơi xa lại gặp gió lớn nên
chưa tới được...
Dưới thời Nguyễn bên cạnh việc triển khai
đo vẽ thực tế ở Hoàng Sa, Trường Sa là việc nhà nước cho hoàn thành nhiều bộ
bản đồ quan trọng, trong đó tiêu biểu nhất là Đại Nam nhất thống toàn đồ hoàn
thành trong khoảng từ năm 1838 đến năm 1840 dưới thời vua Minh Mệnh. Quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa trong bản đồ được vẽ chung thành một cụm hình lưỡi dao kéo
dài gồm khoảng ba chục đảo lớn, trong đó Hoàng Sa ở phía cực bắc được nối liền
với Vạn Lý Trường Sa (tức Trường Sa) ở phía nam trong một chuỗi các đảo chưa có
dấu hiệu phân tách.
Thật ra vào năm 1830 cũng đã xuất hiện tấm
Bản đồ vẽ theo phong cách này, nhưng đang còn ở dạng bản thảo và sau này thời
Thiệu Trị có Đại Nam toàn đồ, dưới thời Tự Đức có Đại Nam nhất thống toàn đồ
(Nam Bắc kỳ hội đồ) là sự tiếp nối của phong cách vẽ bản đồ hiện đại.Xuất hiện
trước và sau Đại Nam nhất thống toàn đồ có khá nhiều bản đồ khác vẽ Hoàng Sa,
Trường Sa vẫn theo phương pháp tryền thống như Nam Việt bản đồ, Thiên tải nhàn
đàm, An Nam dư địa chí, Khải đồng thuyết ước, Nam Việt địa dư trích lục, Nam
Việt địa đồ cựu lục...
Các bản đồ này tuy không cung cấp thông
tin mới, nhưng lại xác nhận một thực tế là suốt trong thế kỷ XIX, Hoàng Sa,
Trường Sa đã được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh hay dùng làm sách phổ
biến kiến thức để mọi người dân Việt Nam ghi nhớ phần lãnh thổ không thể tách
rời của nước Việt Nam thống nhất. Ngay từ khi mới bắt đầu thiết lập Vương
triều, Nguyễn Ánh tiếp tục công cuộc thám sát và phòng thủ biển nhằm củng cố
chính quyền.
Một người Pháp trở thành một đại thần
trong triều là Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) trong khi làm quan ở Huế xác
nhận: "Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng đế bao
gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao
Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có
những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà
vua hiện nay mới chiếm hữu được quần đảo này". Các tác giả phương Tây lúc
đó, trong các tác phẩm của mình, cũng đều công nhận chủ quyền pháp lý của các
vua nhà Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa.
Giám mục Jean Louis Taberd người Pháp,
người nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong cho rằng: "Quần đảo Pracel... Vào
năm 1816, nhà vua đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ
quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành
với ông ta". Ông còn cho xuất bản cuốn Từ điển La Tinh An Nam và kèm theo
tấm bản đồ An Nam đại quốc hoạ đồ, trong đó ở khoảng vĩ tuyến 170 bắc và kinh
tuyến 1100 đông, bản đồ có vẽ một cụm các đảo nhỏ với dòng chữ ghi chú: Paracel
Seu Cát Vàng.Tiến sĩ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên
soạn cuốn sách Geography of the Cochinchinese Empire cho biết: "Chính phủ
An Nam nhận thấy lợi ích có thể đem lại được nếu như dựng lên một ngạch quan
thuế và đã duy trì những thuyền đánh thuế và một đội quân nhỏ đồn trú ở tại chỗ
để thu thuế đối với tất cả những ai đến đó, và để bảo vệ những dân chài của
nước họ".
Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại
uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết sách nói
rõ: "Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay, (tức là từ 1816
đến 1850), quần đảo Paracels (mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là
một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã
làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm
hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm
giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích
là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm
đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông
đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và
chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất
đó".
Trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, khi
Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, triều đình Tự Đức không còn
đủ sức chống lại đã lần lượt để mất chủ quyền về tay Thực dân Pháp, trong đó có
cả chủ quyền các vùng biển đảo. Tuy nhiên vùng đất máu thịt của tổ tông vẫn là
niềm thôi thúc các thế hệ con dân đất Việt đấu tranh đến cùng để giành lại chủ
quyền bằng mọi giá.
Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt
động của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải (trong đó đặc biệt là đội Hoàng Sa) càng
ngày càng được tập hợp phong phú hơn, đa dạng hơn. Chúng ta không chỉ biết về
các đội Hoàng Sa Bắc Hải trong chủ trương thành lập và chỉ đạo hoạt động của
các chúa Nguyễn, của vương triều Tây Sơn và các vua nhà Nguyễn, mà còn biết khá
cụ thể các chủ trương ấy đã được chính quyền và nhân dân các địa phương tự giác
chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ và hết sức nghiêm chỉnh.
Đây không chỉ dừng lại ở những văn bản
chính thức của Nhà nước và những hoạt động phong phú đa dạng ở các địa phương,
mà còn được tập hợp trong những ghi chép của các học giả, các nhà chức trách
Việt Nam, các thương nhân và giáo sĩ phương Tây, thậm chí đến cả nhà sư Trung
Quốc đương đại, những người đã thông qua quan sát trực tiếp hay khảo cứu công
phu từ những văn bản gốc về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà ghi chép
lại một cách khách quan, trung thực.
Tất nhiên các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với
chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác các vùng quần đảo xa giữa Biển Đông,
cũng có lúc thiên về công việc khai thác, cũng có lúc thiên về công việc bảo
vệ, nhưng dù là thiên về chức năng nào thì cũng không thể thay thế được các đội
Thuỷ quân.
Vì thế trong lịch sử chủ quyền của Việt
Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, có những lúc hoạt động của đội Hoàng Sa rất nổi
bật, nhưng cũng có những lúc bị lu mờ, thậm chí có khi bị ghép chung vào công
việc của đôi Thuỷ quân. Chúng ta từng biết có triều đình đã từng quyết định bãi
bỏ đội Hoàng Sa và chuyển công việc của đội Hoàng Sa cho đội Thuỷ quân, nhưng
ngay sau đó họ lại phải tính chuyện tái lập trở lại... Các đội Hoàng Sa, Bắc
Hải dù hoạt động độc lập hay phụ thuộc vào đội Thuỷ quân, thậm chí có là hoạt
động dưới danh nghĩa của đội Thuỷ quân đi nữa, thì cứ vẫn là một tổ chức độc
đáo của các Nhà nước Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, XIX trong chủ trương khẳng
định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia
nào trong khu vực có được.
Đến giữa thế kỷ XIX trước cuộc chiến tranh
xâm lược của thực dân Pháp, mặc dù dân các đảo Lý Sơn, Phú Quý, các xã An Vĩnh,
An Hải, Bình An... vẫn tiếp tục đi ra Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm hoá vật, hải
sản dâng nộp cho triều đình Huế - nghĩa là vẫn thực hiện một chức năng của đội
Hoàng Sa, Bắc Hải xưa, nhưng chức năng bảo vệ biển đảo đã chuyển hẳn cho các
đội Thủy quân. Đến khi triều đình Huế thất thủ, không còn khả năng tổ chức lại
quân đội, củng cố các đội Thuỷ quân để bảo vệ trực tiếp kinh thành Huế, thì
đương nhiên họ cũng không còn khả năng khôi phục hoạt động của đội Hoàng Sa,
Bắc Hải nữa. Sự chấm dứt hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải tuyệt nhiên không
phải là do Nhà nước phong kiến Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình trên các vùng
quần đảo giữa Biển Đông.
Tư liệu cho biết các Nhà nước Việt Nam đã
thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các hình thức và biện
pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải
sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu
thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người
qua lại dễ nhận biết... Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không
chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thuỷ quân, biền binh, vệ giám thành
mà cả binh đinh, dân phu.
Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa Trường Sa đều
phải có quyết định của Nhà nước dưới hình thức "tờ sai để thi hành công
vụ" và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho
thuyền ra khơi hay tạm dừng lại. Sau khi kết thúc công việc họ phải chạy thuyền
thẳng về Kinh đô để báo cáo tình hình, khai nộp hoá vật, hải vật. Nhà vua thông
qua Bộ Công để kiểm tra, đánh giá và tuỳ mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận
công hay định tội, thưởng phạt công minh. Những người hoàn thành nhiệm vụ đều
được Nhà nước cấp bằng xác nhận.
Công việc ở Hoàng Sa và Trường Sa là vô
cùng gian nan nguy hiểm, nhiều trường hợp có đi mà không có về. Thậm chí có
khi người ta phải làm lễ truy điệu sống,
làm đám tang trước để an ủi người đi. Ý thức được đầy đủ nghĩa vụ và trách
nhiệm với quê hương đất nước, nhiều người thản nhiên đi vào cái chết, tự giác
coi đó là lẽ sống của chính mình. Trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng
Sa và Trường Sa được viết bằng máu, được đánh đổi bằng cả cuộc đời của lớp lớp
những con người như thế.
Chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất,
bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam ta, mà bất cứ người Việt Nam chân chính nào cũng cần phải biết trân trọng
và gìn giữ, không chỉ cho hôm nay, mà còn cho muôn đời sau.
-----------
[1]
Lê Quý Đôn: Toàn tập (Phủ Biên tạp lục),
T.1, Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 116.
[2]
Thích Đại Sán: Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế tr.125.
[3]
Bản đồ Thế giới của Mercator xuất bản tại Amsterdam (Hà Lan) 1606, in lại trong
cuốn Asia in Maps from Ancient time to the Mid-19th Century, Lepzig, 1989.
[4]
Bản đồ Bartholomeu Lasso vẽ năm 1590 và 1592-1594, in trong cuốn sách Les
Portugains sur les côtes du Vietnam et du Cămpa của P.Y.Manguin, Paris, 1972;
Bản đồ Van Langren 1598, in trong cuốnIconographie Historique de l'Indochine
của P.Boudet và A.Masson, Paris, 1931.
[5]
Jean.Yves Clayes: Journal de Voyage aux Paracels (Indochine No 45, 1941, tr.7).
[6]
Đơn của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh ngày 15 tháng Giêng năm 1776 (lưu tại nhà
thờ họ Võ thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
Theo
Tạp chí Xưa và nay
Comments
Post a Comment