Nghiên cứu luật pháp:GIÁO SƯ VŨ-VĂN-MẪU TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN LUẬT HỌC VIỆT-NAM = Luật gia Tạ Quốc Tuấn

Nghiên cứu luật pháp:

GIÁO SƯ VŨ-VĂN-MẪU TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN LUẬT HỌC VIỆT-NAM


Luật gia Tạ-quốc-Tuấn

 




  Cách đây 7 năm, vào ngày 20.8.1998, ngành luật học Việt-nam đã mất đi một nhân tài: giáo sư Vũ-văn-Mẫu, Luật khoa Thạc sĩ, người được nhiều sinh viên mệnh danh là Thái sơn Bắc đẩu của ngành luật học Việt-nam. Giáo sư không phải chỉ là một luật sư, mộr luật gia bình thường như nhiều luật sư , luật gia khác ở trong cũng như ngoài nước Việt-nam, mà là một pháp học gia đúng với nghĩa của danh từ. Giáo sư đã có công rất lớn trong việc xây dựng nền luật học hiện đại Việt-nam.

      Giáo sư đã tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Luật học thuộc Viện Ðại học Ðông-dương năm 1938(1), sau sang Pháp du học ngành tư pháp và tốt nghiệp với hai bằng tiến sĩ và thạc sĩ, rồi hồi hương, mới đầu dạy học ở trường Luật khoa Hà-nội(2)  sau ở trường Luật khoa Sài-gòn.

      Giáo sư tích cực hoạt động, góp phần xây dựng và phát triển ngành luật học quốc gia chẳng những qua việc dạy học tại trường luật và ấn hành những tài liệu giáo khoa (một việc rất ít giáo sư khác đương thời làm), mà lại còn bằng những công trình nghiên cứu về các vấn đề thuộc ngành dân luật chuyên môn của giáo sư, và đặc biệt nhất là về cổ luật Việt-nam.

      Ðóng góp quan trọng đầu tiên của giáo sư là biên soạn, cùng với ông Ðào-văn-Tập, bộ TỰ ÐIỂN PHÁP-VIỆT: PHÁP LUẬT, CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ (1955) để đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho nền luật học quốc gia trong buổi sơ khai.

 

Thực vậy, môn luật học được chính thức giảng dạy ở Việt-nam năm 1917, trong thời Pháp thuộc (1862-1945), tại Trường Cao Ðẳng Pháp Chánh Ðông-dương (năm 1917-1933), sau đổi là Trường Cao Ðẳng Luật học (1933-1938) rồi là  Phân khoa Luật (1938-1954) thuộc Viện Ðại học Ðông-dương (sau đổi là Viện Ðại-học Hà-nội), và sau khi chính quyền thực dân Pháp trao trả nền đại học cho quốc gia Việt-nam, tại Luật khoa Ðại học đường thuộc Viện Ðại học Sài-gòn (1955-1975), cũng như là thuộc Viện Ðại học Huế (1960-1975). Cho đến khi nền đại học Việt-nam được người Pháp trao trả năm 1955, các sinh viên Việt-nam đã được các giáo sư, dù là người Pháp hay người Việt, giảng dạy bằng Pháp ngữ; ngoài ra, các tài liệu hay sách giáo khoa đều viết bằng Pháp ngữ. Trong khi đó, từ sau khi Việt-nam giành lại được độc lập khỏi tay người Pháp năm 1945 số người Việt-nam thông thạo Pháp ngữ, nhất là giới học sinh sinh viên, càng ngày càng ít đi, bởi vì chương trình giáo dục Hoàng-xuân-Hãn áp dụng từ 1945 đã lấy Việt ngữ làm chuyển ngữ chính trong các bậc tiểu và trung học, còn Pháp ngữ chỉ được coi là một sinh ngữ, ngang hàng với Anh ngữ, với số giờ học rất ít trong mỗi tuần (4 giờ nếu là sinh ngữ chính hay 2 giờ nếu là sinh ngữ phụ).

      Giáo sư Vũ-văn-Mẫu sớm nhận ra tình trạng này nên thấy cần phải cung cấp cho các sinh viên luật, chính trị và kinh tế, cũng như những người nào mà công việc hay chức vụ có liên hệ đến ba ngành này, một dụng cụ giúp họ hiểu được các tài liệu liên quan tới những địa hạt này viết bằng Pháp ngữ cũng như giúp họ sử dụng và diễn tả những từ và ý về ba địa hạt này bằng Việt ngữ một cách chính xác. Bộ TỰ ÐIỂN PHÁP-VIỆT: PHÁP LUẬT, CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ vì thế được ra đời. Cho tới nay bộ tự điển của giáo sư Vũ-văn-Mẫu vẫn là tài liệu tham khảo căn bản và là nền tảng cho việc biên soạn các tự điển của những người khác, ngay cả các tự điển song ngữ không phải là Pháp-Việt.

      Ngoài ra, sau này giáo sư Vũ-văn-Mẫu còn biên soạn hai bộ khác là TỰ ÐIỂN PHÁP-VIỆT: PHÁP CHÍNH, KINH TÀI VÀ XÃ HỘI (1970) và TIỂU TỪ ÐIỂN LUẬT VÀ KINH TẾ (1973). Bộ tự điển sau cùng này giáo sư biên soạn chung với một số người khác.

      Mặt khác, sau khi người Pháp trao trả Viện Ðại Học Sài-gòn cho Việt-nam, giáo sư Vũ-văn-Mẫu đã được cử làm Khoa Trưởng Trường Ðại Học Luật Khoa Sài-gòn. Giáo sư liền cùng với các giáo sư đồng nghiệp khác như Vũ-quốc-Thông, Vũ-quốc-Thúc, Lưu-văn-Bình, Vũ-văn-Hiền, Nguyễn-Ðộ, v.v., soạn thảo một chương trình luật học hoàn toàn Việt-nam. Nói là hoàn toàn Việt-nam chẳng những với nghĩa là các môn học được giảng dạy bằng Việt ngữ (ngoại trừ một vài môn nhiệm ý, như Luật Hàng Hải, Luật Hiến Pháp Ðối Chiế, Hình Luật Ðối Chiếu, v.v., được giảng dạy bằng Pháp hay Anh ngữ) mà còn với nghĩa là các môn dạy đều dựa trên căn bản luật pháp Việt-nam và trong tinh thần Việt-nam (trừ  hai môn Quốc Tế Công Pháp và Quốc Tế Tư Pháp). Ngay cả những môn không phải là luật, như kinh tế, tài chính, ngân sách... cũng đều lấy Việt-nam làm trường hợp nghiên cứu hay lập luận.

      Ðồng thời, ngay từ năm 1956, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Vũ-văn-Mẫu, trường Ðại Học Luật Khoa Sài-gòn đã biên tập và phát hành LUẬT HỌC KINH TẾ TẠP CHÍ, một tờ quí san chuyên đăng những công trình khảo cứu về các vấn đề luật pháp, hành chính, kinh tế, tài chính, hay phê bình các án lệ của các tòa Thượng Thẩm và tòa Phá Án (sau gọi là Tối Cao Pháp Viện) viết bằng Việt ngữ hay Pháp ngữ. Tạp chí này được chủ trương để cung cấp cho sinh viên cũng như nhiều người khác thêm những tin tức, tài liệu, tư tưởng quí báu, bổ túc cho những bài giảng dạy của các giáo sư trong lớp. Giáo sư Vũ-văn-Mẫu có nhiều bài đăng trong tạp chí.

      Ðứng về một phương diện khác mà xét, chúng ta thấy giáo sư Vũ-văn-Mẫu đã cho ấn hành một số tài liệu quan trọng về pháp luật và nhất là dân luật Việt-nam hay lấy Việt-nam làm trọng tâm. Ðáng kể nhất là các tài liệu DÂN LUẬT KHÁI LUẬN (1958, 1961), VIỆT-NAM DÂN LUẬT LƯỢC KHẢO (1959, 1963), VIỆT-NAM DÂN LUẬT LƯỢC GIẢNG: LUẬT GIA ÐÌNH (1973), PHÁP LUẬT NHẬP MÔN (1973), PHÁP LUẬT DIỄN GIẢNG (1975), v.v. Tuy những tài liệu này là sách giáo khoa viết cho sinh viên luật, nhưng các người khác vẫn có thể dùng các tài liệu đó để tìm hiểu hay nghiên cứu nhiều vấn đề pháp lý liên hệ. Ðiểm quan trọng là các vấn đề đã được trình bày theo quan niệm và tập tục của người Việt-nam. Ðôi khi cần, giáo sư cũng đối chiếu với pháp luật và dân luật của các nước khác, nhất là của nước Pháp.

      Giáo sư Vũ-văn-Mẫu chẳng những chỉ góp phần vào việc xây dựng nền luật học hiện đại Việt-nam mà lại còn có công lớn trong việc nghiên cứu và phổ biến cổ luật Việt-nam nữa. Ðành rằng trước, đồng thời, và sau giáo sư cũng có một ít người đã viết về cổ luật Việt-nam, nhưng họ chỉ nghiên cứu về một vài khía cạnh hay vấn đề pháp lý nào đó thôi (chẳng hạn chế độ đa thê, của hương hỏa, tình trạng pháp lý của người vợ góa, v.v.), nhưng không ai làm công việc này trên bình diện tổng quát, bao trùm mọi khía cạnh, mọi vấn đề của cổ luật để người ta có được một cái nhìn toàn diện về cổ luật, cũng như không ai nghiên cứu kỹ càng về

lịch sử cổ pháp Việt-nam.

      Một quan niệm rất sai lầm của nhiều người cho rằng một luật sư chỉ cần biết đến những đạo luật, những bộ luật, cũng như những án lệ hiện hành là đủ, không cần phải biết đến cổ luật là một món vô bổ, không có lợi gì cho sự biện hộ cho thân chủ của mình(3). Họ có biết đâu rằng những kiến thức, những hiểu biết về cổ luật nhiều khi cũng có ích, có công dụng, cho việc bênh vực quyền lợi của thân chủ, nhất là trong những vấn đề luật hiện đại không qui định.

      Một đạo luật hiện tại không phải tự nhiên mà có hay là sáng kiến của một người nào, một nhóm người nào, mà nó là kết quả đúc kết của nhiều biến cố, nhiều tình trạng đã xảy ra trong xã hội, khiến cho các nhà lập pháp thấy cần phải qui định biện pháp đối phó rõ ràng, cụ thể và hợp lý để giải quyết. Vì thế một đạo luật hiện tại thường hoặc là thoát thân từ một đạo luật trong quá khứ, hoặc là sự cải tiến của một đạo luật cũ, một biện pháp cũ, một quan niệm pháp lý cũ. Sự hiểu biết cổ luật vì thế rất quan trọng, có thể giúp không ít cho việc hành nghề của một luật sư. Cũng có khi một đạo luật hiện tại có khiếm khuyết, không qui định hay qui định không rõ ràng đầy đủ về một vấn đề pháp lý nào đó. Trong trường hợp này, các nhà tư pháp, cũng như các luật gia, nhiều khi phải tham chiếu luật xưa để tìm hiểu cách giải quyết vấn đề mà luật hiện tại không đề cập tới hay qui định thiếu sót. Ðó cũng là lý do tại các trường đại học luật khoa trên thế giới đều có giảng dạy thêm cổ luật của nước họ, hoặc thành một môn học riêng hoặc dưới hình thức pháp chế sử hay định chế sử, để giúp cho sinh viên, các luật sư tương lai, có được một số kiến thức và dụng cụ cần thiết để bổ túc cho các kiến thức về luật  hiện tại.

      Ðể phổ biến cổ luật Việt-nam, giáo sư Vũ-văn-Mẫu đã nhập môn học này vào môn Dân Luật mà giáo sư đảm nhiệm việc giảng dạy. Sở dĩ giáo sư làm như vậy là vì quan niệm rằng đại đa số các vấn đề tranh chấp kiện tụng giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau đều thuộc lãnh vực dân luật (còn gọi là hộ luật). Nếu giảng dạy cả hai thì sinh viên sẽ có được một cái nhìn quán thông về các vấn đề pháp lý hơn.

      Ngoài ra, giáo sư đã cho ấn hành hai tài liệu quan trọng là CỔ LUẬT VIỆT-NAM LƯỢC KHẢO (1968, 1970, 1971) và CỔ LUẬT VIỆT-NAM THÔNG KHẢO VÀ TƯ PHÁP SỬ (quyển thứ nhất, tập nhất in năm 1974; quyển thứ nhất, tập hai in năm 1975; quyển thứ hai in năm 1975). Hai tài liệu này, nhất là tài liệu thứ hai, vừa là sách giáo khoa vừa là sách trình bày một cách giản lược lịch sử cổ pháp Việt-nam từ khi lập quốc cho đến thời Pháp thuộc, và các luật lệ liên quan đến gia đình (cả tiểu lẫn đại gia đình), khế ước, trách nhiệm, hình luật, tổ chức tư pháp và tố tụng trong cổ luật, v.v.

      Quan trọng hơn nữa là trong thập niên đầu kể từ khi Trường Ðại Học Luật Khoa Sài-gòn được trao trả cho người Việt-nam, giáo sư Vũ-văn-Mẫu đã tổ chức việc phiên dịch các tài liệu luật cổ của Việt-nam viết bằng Hán tự sang Việt ngữ.

      Bốn tài liệu đã được lần lượt phiên dịch và xuất bản là: (a) QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT (còn gọi là bộ Luật Hồng-đức, bộ Luật Nhà Lê) do Lưỡng-thần Cao-nãi-Quang dịch (1956); (b) LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ của Phan-huy-Chú (chỉ dịch các quyển 13-19, Quan Chức Chí, 29-32, Quốc Dụng, và 33, đại cương về việc san định hình luật của các triều đại) do Cao-nãi-Quang và Nguyễn-sĩ-Giác dịch (1957); (c) HỒNG ÐỨC THIỆN CHÍNH THƯ do Nguyễn-sĩ-Giác dịch (1959); (d) LÊ TRIỀU CHIẾU LỆNH THIỆN CHÍNH do Nguyễn-sĩ-Giác dịch (1961). Tài liệu nào cũng được giáo sư đề tựa và giới thiệu.

      Sau hết, nhiều bài biên khảo có giá trị của giáo sư về những vấn đề pháp lý hay giới thiệu luật Việt-nam được đăng trong nhiều tạp chí trong cũng như ngoài

Nước(4).

      Với thời gian vỏn vẹn 20 năm (1955-1975), những đóng góp kể trên của giáo sư không phải là nhỏ, nhất là khi đem so sánh với những người có cơ hội, có phương tiện, và có khả năng như giáo sư mà đóng góp lại quá nhỏ bé. Ðáng tiếc là từ sau biến cố 1975 giáo sư Vũ-văn-Mẫu không còn môi trường hoạt động, kể cả khi đã sang sinh sống bên Pháp. Sự ra đi vĩnh viễn của giáo sư đã để lại một lỗ hổng lớn trong lâu đài luật học Việt-nam, không biết bao giờ mới được lấp kín.Tuy người ta có thể không tán thành, không đồng ý với những ý kiến hay hoạt động chính trị của giáo sư, nhưng không ai có thể phủ nhận đóng góp và vai trò của giáo sư trong việc xây dựng nền luật học Việt-nam.

Tạ Quốc Tuấn

Cựu sinh viên Luật khoa Sàigòn

Chú Thích:

(1) Cũng trong năm 1938 trường Cao đẳng Luật học được đổi thành Phân khoa Luật.

(2) Giáo sư còn giữ chức Phó Khoa trưởng trường Luật  ở Hà-nội (nửa đầu năm 1954), Khoa trưởng đấu tiên của Luật khoa Ðại học đường ở Sài-gòn (năm 1955-1957), Bộ trưởng Ngoại giao trong thời Ðệ Nhất Cộng hòa (1954-1963), Nghị sĩ Quốc hội thời Ðệ Nhị Cộng hòa, thủ tướng 1 ngày 29.4.1975.

(3) Trong những người cùng học luật với chúng tôi năm 1955-1956 đã có ít nhất là ba người  (cũng là bạn của chúng tôi) phản đối việc học cổ luật Việt-nam và bỏ sang học ngành đại học khác, dù khi đó cổ luật Việt-nam chỉ được giảng dạy làm phần mở đầu của môn dân luật mà thôi, chứ chưa thành một môn học riêng như sau này.

(4) Thí dụ một bài của giáo sư Vũ-văn-Mẫu giới thiệu về luật Việt-nam đã được Francisco Vega Sala dịch sang tiếng Tây-ban-nha mang nhan đề “Introducción al Derecho Vietnamita” và được đăng trong Revista del Instituto de Derecho Comparado, Barcelona, số 22-23, 1964, tr. 38-71.

 

Comments

Popular posts from this blog

THÔNG BÁO Về Đặc San Luật Khoa 2025 cập nhật.

Trình tự Xét xử công minh Quyền con người trước phiên tòa- Quyền được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán 0

CÂU KẠC BỘ LUẬT KHOA VIỆT NAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI ẤT TỴ 2025