TÌM HIỂU LUẬT PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH: Hoạt động giải quyết và áp dụng pháp luật của Tòa án Việt Nam trong các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
LUẬT PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH:
Hoạt động giải quyết
và áp dụng pháp luật của Tòa án Việt Nam trong các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài.
17/06/2024
Bài
viết trình bày các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến việc
áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh việc đề cập đến một số thực trạng trong hoạt
động giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam, tác
giả kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án
trong lĩnh vực này.
Sự gia tăng của các mối quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoàikéo theo sự xuất hiện của các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoà].
Khi các vụ việc dân sự, thương mại loại này ngày một nhiều lên sẽ đòi hỏi các
thiết chế giải quyết tranh chấp phải linh hoạt hơn và phải đáp ứng được những
yêu cầu của chính các bên trong tranh chấp. Một trong số các yêu cầu đó là việc
áp dụng pháp luật nước ngoài trong hoạt động của các thiết chế khi giải quyết
tranh chấp nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng.
1. Quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Nói đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài là
nói đến áp dụng pháp luật của quốc gia không phải Việt Nam và “quốc
gia” được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các quốc gia và các vùng lãnh
thổ trên thế giới. Quy định của BLDS 2015 về việc áp dụng pháp luật nước ngoài
một cách hợp pháp tại Việt Nam chỉ diễn ra trong ba trường hợp:
-Một là, khi có quy phạm xung đột trong điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc trong luật Việt Nam dẫn chiếu đến. Theo
khoản 1 Điều 664 BLDS 2015, pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng theo quy
định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo pháp luật Việt
Nam. Đây là trường hợp có sự quy định của quy phạm xung đột thống nhất trong
điều ước quốc tế hay quy phạm xung đột trong nước mà Việt Nam ban hành dẫn
chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài.
-Hai là, các bên tham gia trong quan hệ có thỏa
thuận lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài, nếu như thỏa thuận này đáp ứng
được các điều kiện chọn luật. Khoản 2 Điều 664 BLDS 2015 quy định: “trường
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc
luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối
với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các
bên”. Như vậy, theo BLDS 2015, quyền chọn luật được mở rộng ở bất kỳ
lĩnh vực nào chứ không hạn chế nếu điều ước quốc tế hoặc luật Việt Nam có quy
định. Điều này hoàn toàn thỏa đáng đối với lợi ích của các bên tham gia những
mối quan hệ dân sự như thừa kế, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… và phù hợp
với xu hướng của Tư pháp quốc tế của các quốc gia tiên tiến trên thế giới về
quyền chọn luật [3].
-Ba là, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
và pháp luật Việt Nam không có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến, các bên cũng
không có thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài nhưng pháp luật nước ngoài do
cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi chứng minh được đây là nguồn luật thể hiện
mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài[4].
Áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài là nhà làm luật Việt Nam đã tiếp thu về thuật ngữ và sử dụng kiến
thức của tư pháp quốc tế Common law và luật của Liên minh châu Âu để giải quyết
xung đột pháp luật. Thông thường mối liên hệ gắn bó nhất này thường được thể
hiện ở việc gắn kết gần gũi nhất với một mối quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài cụ thể[5].
Có thể thấy rằng điều quy định trong BLDS 2015
được coi là tiền đề cho việc áp dụng pháp luật nước ngoài cho các mối quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung. Ngoài ra, đối với các quan hệ pháp luật
chuyên ngành khác có yếu tố nước ngoài như quan hệ thương mại, hàng hải, hàng
không dân dụng, hôn nhân và gia đình, đầu tư,… nhà làm luật cũng xây dựng những
điều quy định về việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong các đạo luật chuyên
ngành tương ứng như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ
luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng,…
Những nội dung nói trên được coi là điều kiện
cần để pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng bởi cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam. Bên cạnh đó, điều kiện đủ để pháp luật nước ngoài được áp dụng tại
Việt Nam là không rơi vào các trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài.
Những trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài được ghi nhận ở Điều 670
BLDS 2015:
Trường hợp thứ nhất, hậu quả của việc áp dụng
pháp luật nước ngoài trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[6].
Thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản” của pháp luật Việt Nam tuy
không được giải thích một cách cụ thể trong BLDS 2015 nhưng tại điểm đ khoản 2
Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại có quy định
rõ: “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao
trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
Trường hợp thứ hai là nội dung của pháp luật
nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo
quy định của pháp luật tố tụng[7]. Liên quan đến quy định này là quy định
tại BLTTDS 2015, Điều 481 về trách nhiệm xác định, cung cấp nội dung pháp luật
nước ngoài. Theo đó, các đương sự được quyền lựa chọn áp dụng pháp luật nước
ngoài sẽ có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án đang giải
quyết vụ việc dân sự. Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng theo quy
định của pháp luật Việt Nam hoặc theo sự dẫn chiếu của điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên thì đương sự có quyền cung cấp nội dung pháp luật nước ngoài
cho Tòa án còn Tòa án thì có thể yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài. Ngoài ra có thể
yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt nam hay nước ngoài khác cung cấp
những thông tin này. Trong trường hợp hết thời hạn 06 tháng mà không tìm thấy
thông tin về pháp luật nước ngoài thì pháp luật Việt Nam được áp dụng[8].
Có thể thấy, các quy định pháp luật trong các
luật chung hay các đạo luật chuyên ngành nói trên được coi là những cơ sở pháp
lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình xét xử của
Tòa án Việt Nam.
2. Thực trạng áp dụng
pháp luật nước ngoài trong giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Việt Nam
Đầu tiên phải nói đến là trong khi giải quyết
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án thấy rằng các vụ việc dân sự đó chỉ
áp dụng pháp luật Việt Nam. Nếu căn cứ vào nội dung tranh chấp thì thấy rằng
nội dung các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài chủ yếu liên quan đến các vấn đề
sau đây: quyền sử dụng đất tại Việt Nam, quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền
sử dụng đất ở Việt Nam, thừa kế tài sản tại Việt Nam và ly hôn. Như vậy đối với
các loại tranh chấp này thì Tòa án bắt buộc phải áp dụng pháp luật Việt Nam.
Việc áp dụng pháp luật Việt nam là phù hợp với nguyên tắc xử lý tranh chấp bất
động sản. Đối với vấn đề ly hôn thì thấy rằng các đương sự trong vụ án ly hôn
đa phần là giữa người Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài
hoặc giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài. Như vậy việc áp dụng pháp
luật Việt Nam để giải quyết vấn đề ly hôn nêu trên là đúng với quy định của
pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong
lĩnh vực dân sự mà Việt Nam là thành viên[9].
Điều thứ hai, liên quan đến việc áp dụng pháp
luật nước ngoài theo sự lựa chọn của các bên. Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa
có quy định cụ thể về các điều kiện chọn luật để pháp luật nước ngoài được áp
dụng. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền tự do ý chí của các bên - một nguyên tắc
cơ bản trong những mối quan hệ mang bản chất dân sự.
Điều thứ ba, trong thực tiễn áp dụng pháp luật
nước ngoài trong quá trình xét xử của Tòa án liên quan đến việc xác định nội
dung pháp luật được ngoài được cung cấp. Pháp luật nước ngoài khi được các chủ
thể cung cấp theo quy định của BLTTDS 2015 thì phải xác định đó là “chứng cứ”
của vụ án hay là “nguồn luật” để áp dụng. Nếu coi pháp luật nước ngoài là chứng
cứ thì trách nhiệm cung cấp chứng cứ sẽ thuộc về các đương sự theo đúng các
nguyên tắc của luật tố tụng. Tuy nhiên BLTTDS 2015 chỉ quy định nghĩa vụ cung
cấp pháp luật nước ngoài thuộc về các đương sự khi mà pháp luật nước ngoài áp
dụng trong quan hệ đó là do chính các bên lựa chọn. Còn các trường hợp pháp
luật nước ngoài được áp dụng từ sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột hay với tư
cách là luật có mối liên hệ mật thiết nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài thì các đương sự không có nghĩa vụ cung cấp thông tin
pháp luật nước ngoài mà có quyền làm điều này. Trách nhiệm tìm
hiểu thông tin pháp luật nước ngoài lúc này lại thuộc về Tòa án. Đối với trường
hợp pháp luật nước ngoài được coi là nguồn luật thì lại đặt ra vấn đề cần phải
xem xét toàn bộ hệ thống pháp luật của quốc gia đó nếu muốn áp dụng. Cách hiểu
này tạo ra khó khăn lớn cho Tòa án vì phải có hiểu biết sâu sắc về pháp luật
nước ngoài mới có thể áp dụng được.
Thêm nữa, mặc dù BLTTDS 2015 đã có quy định về
quyền của Tòa án có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức khác phối hợp trong việc
tìm hiểu và cung cấp thông tin pháp luật nước ngoài nhưng lại chưa có quy định
cụ thể về việc xác định chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm chi trả kinh phí để làm
điều này.
Ngoài ra, việc xác định tính hợp pháp của văn
bản, tài liệu chứa nội dung pháp luật nước ngoài mà đương sự cung cấp cho Tòa
án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 481 BLTTDS 2015 thì đương sự phải chịu trách
nhiệm về tính hợp pháp của nội dung pháp luật nước ngoài mà đương sự cung cấp
cho Tòa án. Như vậy, đối với các tài liệu mà đương sự tìm kiếm trên mạng nhưng
không phải từ những nguồn dữ liệu chính thống hay các văn bản, tài liệu mà
đương sự cung cấp cho Tòa án không đủ điều kiện để thực hiện hợp pháp hóa lãnh
sự thì sẽ khó có thể được chấp nhận là tài liệu phục vụ cho việc áp dụng pháp
luật nước ngoài trong quá trình xét xử của Tòa.
Về việc dịch thuật văn bản, tài liệu có chứa
đựng nội dung pháp luật nước ngoài. Theo đó đương sự phải gửi văn bản, tài liệu
có chứa nội dung pháp luật nước ngoài và bản dịch ra tiếng Việt có công chứng
hoặc chứng thực chữ ký của người dịch về nội dung pháp luật nước ngoài đó, thì
Tòa án mới công nhận[10]. Tuy nhiên, việc dịch thuật có thể đặt
ra rất nhiều vấn đề, nhất là khi nội dung của pháp luật nước ngoài không có bản
tiếng Anh mà chỉ được thể hiện qua ngôn ngữ duy nhất không phổ biến. Hơn nữa,
chất lượng dịch các tài liệu không phải lúc nào cũng đạt yêu cầu, bởi việc dịch
thuật các tài liệu loại này đòi hỏi không chỉ người dịch có hiểu biết ngôn ngữ
mà còn phải có kiến thức về khoa học pháp lý thì mới có thể sử dụng đúng các
thuật ngữ phù hợp. Trên thực tế việc dịch sai, dịch thiếu là điều khó tránh
khỏi. Thậm chí cùng nội dung pháp luật nước ngoài nhưng các đương sự cung cấp
bản dịch ra tiếng Việt có nội dung khác nhau.
Vấn đề này làm ảnh hưởng rất lớn đến việc áp
dụng pháp luật nước ngoài của Thẩm phán khi xét xử. Vì nếu như không có hiểu
biết về ngoại ngữ để tự mình tìm hiểu thì Thẩm phán sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn
vào những nội dung dịch thuật này. Nếu chất lượng dịch thuật kém thì sẽ không
bảo đảm yêu cầu đặt ra của việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Xa hơn nữa là
việc phụ thuộc vào tài liệu được cung cấp để áp dụng pháp luật nước ngoài rất
có thể sẽ làm mất đi tính chất độc lập của Thẩm phán khi xét xử.
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài có thể làm
kéo dài thời gian giải quyết vụ án do mất thời gian để thu thập nội dung pháp
luật nước ngoài. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính
đáng của các bên đương sự mà còn ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng của Tòa án nói
chung.
3. Một số giải pháp đối
với việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài của Tòa án
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về điều kiện áp
dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp các bên có thỏa thuận chọn luật.
Pháp luật Việt Nam thừa nhận quyền tự do chọn luật của các bên để áp dụng cho
một số các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là cách quy định phù hợp với
pháp luật của các nước trên thế giới cũng như tôn trọng nguyên tắc tự do ý chí
giữa các bên. Tuy nhiên, để quyền chọn luật của các bên thực sự phát huy hiệu
lực trên thực tế và để pháp luật nước ngoài có khả năng cao được các Thẩm phán
Việt Nam áp dụng thì nhà làm luật Việt Nam cần ban hành các quy định chi tiết
về điều kiện chọn luật đối với các bên trong các quan hệ được phép chọn luật.
Sự quy định rõ ràng về các điều kiện chọn luật vừa tạo thuận lợi cho Thẩm phán
có căn cứ áp dụng pháp luật nước ngoài cũng như có căn cứ từ chối áp dụng pháp
luật nước ngoài trong trường hợp không thỏa mãn các điều kiện đặt ra.
Thứ hai, cần làm rõ nghĩa vụ cung cấp thông
tin pháp luật nước ngoài cũng như điều kiện hình thức của pháp luật nước ngoài
được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền.
Thứ ba, cần quy định
những hướng dẫn cụ thể để giúp Tòa án xác định nội dung pháp luật nước ngoài
như xây dựng các website về thông tin pháp luật nước ngoài, phối hợp với các
chuyên gia hoặc các cơ sở đào tạo Luật về tìm hiểu nội dung của pháp luật nước
ngoài,… Tại Trung Quốc, TANDTC trong nỗ lực giúp các Thẩm phán có thể hiểu rõ
hơn về pháp luật nước ngoài đã tiến hành thiết lập một nền tảng một cửa cho mục
đích xác định pháp luật nước ngoài trong đó có việc thành lập các tổ chức cung
ứng pháp luật nước ngoài chuyên nghiệp. TANDTC đã thiết lập quan hệ hợp tác với
năm cơ quan thông tin về pháp luật nước ngoài ở Trung Quốc và đương sự có thể
trực tiếp nộp đơn cho các cơ quan này để được cung cấp bằng chứng chứng minh về
pháp luật nước ngoài.
Ví dụ: Trung tâm nghiên cứu và minh chứng pháp
luật nước ngoài tại Đại học khoa học chính trị và pháp luật Trung Quốc là sự
liên kết của phân tòa dân sự số 4 TANDTC và Đại học khoa học chính trị và pháp
luật Trung Quốc được trao quyết định thành lập từ năm 2014 và đi vào hoạt động
từ năm 2015. Trung tâm này ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu về pháp luật nước
ngoài tại Trung Quốc thông qua cung cấp các dịch vụ: 1) Xây dựng cơ sở về dịch
vụ dữ liệu pháp luật nước ngoài; 2) Cung cấp tư vấn pháp luật nước ngoài cho hệ
thống Tòa án; 3) Đào tạo tư pháp về nghiệp vụ tiếp cận và nghiên cứu pháp luật
nước ngoài; 4) Đồng tổ chức với TANDTC các nghiên cứu cải cách về việc áp dụng
pháp luật nước ngoài trong các quan hệ dân sự và thương mại. Trung tâm có cơ
cấu hơn 20 nhân sự đến từ các trường đại học trong và ngoài nước và là những
chuyên gia có kinh nghiệm về các hệ thống pháp luật khác nhau[11].
Đối với trường hợp của Việt Nam, cần khuyến
khích các đơn vị nghiên cứu khoa học pháp lý hay luật so sánh dịch thuật và
công bố các quy phạm pháp luật chủ chốt của một số hệ thống pháp luật có ảnh
hưởng thường xuyên tới giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài. Cần phát triển
các đơn vị nghiên cứu luật so sánh để có thể cung cấp các thông tin về pháp
luật nước ngoài cho hệ thống Tòa án Việt Nam khi cần thiết. Hiện nay có rất
nhiều mô hình các trung tâm, chủ yếu là trong khuôn khổ các trường Đại học hoặc
hợp tác với nước ngoài. Ngoài ra, về phía TANDTC có thể mở rộng hợp tác với các
hệ thống Tòa án các nước trên thế giới trong việc trao đổi thông tin pháp luật
và thực tiễn xét xử, hỗ trợ đào tạo thêm kiến thức pháp luật nước ngoài cho
thẩm phán.
Cuối cùng, để tạo được sự thống nhất trong áp
dụng pháp luật, cần đẩy nhanh xây dựng án lệ đối với việc áp dụng pháp luật
nước ngoài tương tự như việc TANDTC đã ban hành Án lệ số 13/2017/AL về việc áp
dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết vụ việc dân sự.
ThS. NGUYỄN THỊ KHÁNH
NGỌC (Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQGHCM)
NGUỒN : https://tapchitoaan.vn/hoat-dong-giai-quyet-va-ap-dung-phap-luat-cua-toa-an-viet-nam-trong-cac-vu-viec-dan-su-co-yeu-to-nuoc-ngoai11179.html
Comments
Post a Comment