Nghiên cứu luật pháp: NGUYÊN NHÂN LUẬT QUỐC TẾ CHẬM PHÁT TRIỂN TẠI vIỆT nAM - Luật gia Tạ Quốc Tuấn.
Nghiên cứu luật pháp:
NGUYÊN NHÂN LUẬT QUỐC TẾ CHẬM PHÁT TRIỂN Ở VIỆT-NAM
Luật gia Tạ-quốc-Tuấn
LTS. Trước năm 1975, Ông Tạ Quốc
Tuấn là sinh viên Ban Cao Học Công Pháp Ðại học Luật khoa Sàigòn, giáo sư Anh
văn, và là cựu viên chức Bộ Ngọai Giao VNCH. Sau 1975 định cư tại Hoa Kỳ, đã
học và tốt nghiệp nhiều văn bằng Ðại học Hoa Kỳ. Ông Tuấn đang nghỉ hưu
tại Dallas, Texas và đã có nhiều bài biên khảo có giá trị về
luật pháp, lịch sử, văn học . . . đăng trên nhiều báo ở hải ngọai. Hiện là cộng
tác viên thường xuyên “Diễn đàn Luật Pháp & Ðời Sống” phát hành tại Hoa Kỳ,
Nước Việt-nam mặc dù
đã tồn tại ngót 5.000 năm và có hơn 2.000 năm lịch sử bang giao với các nước
láng giềng (như Trung-quốc, Ai-lao, Cao-miên, Chiêm-thành, v.v.), nhưng không
hề lập nên một hệ thống nguyên tắc hay tập tục luật quốc tế riêng của mình. Mặt
khác, tuy luật quốc tế mà người Tây phương thi hành hàng mấy trăm năm qua (gọi
tắt là “luật quốc tế”) đã được truyền bá ở Việt-nam từ cuối thập niên 1910 và
tuy trong khoảng thời gian năm 1945-1975, và ngay cả tới hiện tại, đã có rất
nhiều biến cố xảy ra ở Việt-nam gây nên những vấn đề, những đề tài nghiên cứu
theo khía cạnh luật quốc tế, nhưng Việt-nam có rất ít luật gia hay luật sư
chuyên về luật quốc tế, không có nhiều tác phẩm, tạp chí, tập san chuyên về
ngành luật này, và không có ngay cả những tổ chức, những hội đoàn, những nhóm
chuyên nghiên cứu và phổ biến luật quốc tế. Một số nguyên nhân đã góp phần vào
việc tạo nên tình trạng này.
Trước
khi đi vào vấn đề, chúng tôi xin nói ngay là vì thiếu nhiều tài liệu và dữ kiện
về việc giảng dạy, phát triển luật quốc tế ở vùng thuộc chế độ Việt-nam Dân chủ
Cộng hòa (VNDCCH) trước năm 1975 và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt-nam
(CHXHCNVN) từ đó đến nay nên những gì chúng tôi trình bày dưới đây là dựa theo
một số tài liệu phổ biến ở ngoại quốc mà chúng tôi sử dụng hết sức dè dặt.
I/- LUẬT QUỐC TẾ KHÔNG ÐƯỢC GIẢNG DẬY
ÐẦY ÐỦ
Mãi đến
những năm cuối cùng của thế kỷ thứ 18 người Việt mới bắt đầu tiếp xúc với cái
gọi là luật quốc tế, khi chúa Nguyễn-Ánh (sau này là vua Gia-long, 1802-1820)
điều đình với Pháp, tuy là qua giám mục người Pháp Bá-đa-lộc, để xin viện trợ
quân sự dùng vào việc tranh giành quyền cai trị nước Ðại-Việt với nhà Tây-sơn
(1788-1802), và nhất là từ thập niên 1860 đến thập niên 1880, nước Việt đã
nhiều lần thương thuyết với người Pháp lúc đó đang xâm lăng nước
Việt. Có lẽ vì những sự việc này mà một số nhà trí thức Việt đã tìm tòi học hỏi
về luật quốc tế. Thực vậy, năm 1874, Phạm-phú-Thứ (1820-1882), lúc đó giữ chức
Tổng-đốc Hải-yên, đã cho in lại bản dịch bằng Hoa văn một tác phẩm của người
Anh về quốc tế công pháp, mang nhan đề Vạn Quốc Công Pháp(1).
Tuy
nhiên, phải mấy chục năm sau môn luật quốc tế mới được chính thức giảng dạy cho
người Việt-nam ở Trường Cao đẳng Pháp chính Ðông-dương (năm 1933 trường đổi tên
là trường Cao đẳng Luật học, và năm 1938 trường lại một lần nữa đổi thành Luật
khoa Ðại học hiệu, hay gọi tắt là Trường Luật).
Luật
quốc tế được dạy thành hai môn Quốc tế Công pháp và Quốc tế Tư pháp
ở năm thứ ba chương trình ba năm Cử nhân Luật khoa. Mỗi môn được giảng dạy
trong 1 học kỳ (môn học bán niên), gồm 18 tuần lễ, tổng cộng 30 giờ học và chỉ
có thi vấn đáp thôi. Trên cấp Cao học, Quốc tế Công Pháp vẫn chỉ là một trong
những môn của chương trình Cao học Công pháp, và Quốc tế Tư pháp là một môn của
chương trình Cao học Tư pháp. Cả hai môn này là những môn học toàn niên, trong
2 học kỳ, hay 36 tuần lễ, tổng cộng 60 giờ.
Các giáo sư
phụ trách giảng dạy môn luật quốc tế là người Pháp và các sách giáo khoa về
luật quốc tế do người Pháp biên soạn bằng tiếng Pháp. Lẽ dĩ nhiên, các sinh
viên suy nghĩ, lý luận theo quan điểm của nước Pháp và của các học
giả Pháp về các vấn đề luật quốc tế. Thỉnh thoảng quan điểm của các
luật gia ngoại quốc hay các quyết định của các tòa án quốc tế cũng được trình
bày, nhưng rất sơ sài, nông cạn. Mặt khác, trong thời Pháp thuộc, các học sinh
và sinh viên Việt-nam từ tiểu học lên đến đại học đều được dạy Pháp
ngữ, ít khi họ có cơ hội được học các ngoại ngữ khác, ngoại trừ tiếng Hy-lạp
hay tiếng La-mã, nhưng ngay cả trong trường hợp này họ cũng chỉ được dạy tiếng
Hy-lạp hay La-mã cổ điển mà thôi, do đó rất ít người có thể đọc các sách vở tài
liệu viết bằng ngoại ngữ khác.
Hơn
nữa, phương pháp giảng dạy hoàn toàn có tính cách lý thuyết. Trong môn luật
quốc tế, các giáo sư chỉ trình bầy những nguyên tắc của luật quốc tế. Ngoài ra,
việc giảng dạy luật quốc tế ở cấp Cử nhân và ở cấp Cao học không khác nhau mấy,
ngoại trừ tất cả các vấn đề căn bản của Quốc tế Công pháp hay của Quốc tế Tư
pháp được giảng dạy ở cấp Cử nhân, còn ở cấp Cao học thì sinh viên đượïc giảng
dạy ở trình độ thâm cứu một vài vấn đề của Quốc tế Công pháp hay Quốc tế Tư
pháp (vì vậy tên môn học mới gọi là Quốc tế Công pháp Thâm cứu, Quốc tế Tư pháp
Thâm cứu).
Ở
mỗi lớp, giáo sư giảng bài, còn các sinh viên thì ghi chép bài giảng. Ít khi có
những cuộc hội thảo hay thuyết trình, mặc dù sinh viên có thể đặt câu hỏi để
giáo sư giải thích. Các sinh viên thường không được giáo sư chỉ định cho một đề
tài nào để nghiên cứu và trình bày trước cả lớp hay viết thành bài.
Sau hết, mặc dù
sinh viên Cao học có thể chọn một vấn đề luật quốc tế để làm luận án tiến sĩ,
nhưng trong thời Pháp thuộc không có sinh viên Việt-nam thuần túy nào (nghĩa là
không mang quốc tịch Pháp) viết luận án tiến sĩ về một vấn đề thuộc luật quốc
tế, nhất là về Quốc tế Công pháp. Ngoài ra, không có ngay cả nhũng người
Việt-nam ở Việt-nam viết sách vở hay bài báo về các vấn đề luật quốc
tế.
Tình
hình này vẫn tiếp diễn sau khi Việt-nam được độc lập trở lại năm 1945. Tuy
nhiên, ở vùng VNDCCH, trước năm 1976 trường Ðại học Hà-nội không có cấp một văn
bằng luật nào, mà chỉ giảng dạy có một vài môn luật ở ban Pháp lý. Ai muốn hành
nghề luật phải theo học tại Trường Cao đẳng Pháp lý. Tuy nhiên, tại đây các
sinh viên cũng chỉ được học các môn hệ thống tư pháp Việt-nam, luật hành chính,
tổ chức chính quyền và chính trị học.
Năm
1976, trường Ðại học Hà-nội thiết lập ban luật học, với chương trình học 4 năm.
Trong hai năm đầu, sinh viên học những môn luật tổng quát, còn những môn chuyên
biệt thì chỉ bắt đầu được giảng dạy từ năm thứ ba trở đi. Ngoài ra, sinh viên
có thể chọn chuyên về: (a) Luật Nhà Nước và Hành Chính (tức Công Pháp); (b)
Luật Tư Pháp; (c) Luật Kinh Tế; hay (d) Luật Quốc Tế. Chương trình chuyên ngành
Luật Quốc tế gồm các môn Quốc tế Công pháp, Quốc tế Tư pháp, và Ngoại giao.
Năm
1980, Trường Cao đẳng Pháp lý nhập với ban Pháp lý của trường Ðại
học Hà-nội thành trường Ðại học Pháp lý. Trường Ðại học Pháp lý cũng có chương
trình học luật 4 năm và sinh viên cũng có thể chọn chuyên về luật quốc
tế.
Chúng
tôi thú thực là không biết gì hơn về việc giảng dạy
luật quốc tế ở miền bắc Việt-nam trong những năm 1954-1975 và trong
toàn quốc từ năm 1975 trở đi.
Trong
khi đó ở các khu do chính quyền quốc gia kiểm soát việc giảng dạy luật quốc tế
không có gì thay đổi, về chương trình học, phương pháp giảng dạy, sách giáo
khoa, ngay cả về chuyển ngữ giảng dạy là Pháp ngữ. Mãi đến khi người Pháp trao
trả ngành đại học cho chính phủ Quốc gia Việt-nam (ngày 11/5/1955) và một hệ
thống đại học hoàn toàn quốc gia được thiết lập ở Sài-gòn, mệnh danh là “Viện
Ðại học Sài-gòn”, thì việc giảng dạy luật quốc tế tại Luật khoa Ðại học đường
Sài-gòn mới có ba thay đổi.
Thứ
nhất, môn Quốc tế Công pháp được giảng dạy ở năm thứ nhất ban Cử nhân Luật
khoa. Tuy nhiên, môn Quốc tế Tư pháp vẫn được giảng dạy ở năm thứ ba ban Cử
nhân Luật khoa.
Thứ
hai, cả hai môn Quốc tế Công pháp và Quốc tế Tư pháp đều có thể là môn thi viết
ở kỳ thi cuối năm thứ nhất (Quốc tế Công pháp) hay cuối năm thứ ba (Quốc tế Tư
pháp). Tuy nhiên, vì kỳ thi viết của mỗi năm học của cấp Cử nhân gồm có ba môn
mà hai môn bắt buộc là dân luật và kinh tế (và cũng là môn thi vấn đáp), nên
môn Quốc tế Công pháp hay Quốc tế Tư pháp chỉ là môn bốc thăm (cũng như một số
môn khác) để làm môn thi viết thứ ba, cho năm thứ nhất và năm thứ ba. Ngoài ra,
nếu môn Quốc tế Công pháp hay Quốc tế Tư pháp được bốc trúng cho kỳ thi viết
thì được miễn trong kỳ thi vấn đáp; còn nếu không được chọn trong kỳ thi viết
thì sẽ được khảo trong kỳ thi vấn đáp.
Thứ
ba, hai môn Quốc tế Công pháp và Quốc tế Tư pháp, cũng như các môn
khác, được giảng dạy bằng Việt ngữ ở cấp Cử nhân. Trên cấp Cao học,
việc giảng dạy luật quốc tế không có gì thay đổi cả, ngoại trừ trong
những năm đầu việc giảng dạy vẫn bằng Pháp ngữ, sau cũng đổi sang bằng Việt
ngữ. Hơn nữa, chương trình ở cả hai cấp này không có các môn học nhiệm ý.
Năm
1965 chương trình học luật ở cấp Cử nhân có thêm hai thay đổi:
(a) chương trình học tăng lên là 4 năm; và (b) sinh viên được
tự do chọn chuyên về Công pháp, Tư pháp hay Kinh tế ngay từ cấp Cử nhân, chứ
không phải đợi tới cấp Cao học.
Ngay
cả việc giảng dạy luật quốc tế cũng vẫn giữ nguyên. Các giáo sư vẫn giảng bài,
phần lớn là dựa trên những sách giáo khoa, hoặc là do chính giáo sư biên soạn
hoặc là của các tác giả khác. Không có những buổi nghiên cứu vấn đề (case
study), không có cả những buổi hội thảo hay thuyết trình, mặc dù từ năm 1959
các sinh viên luật có thêm những buổi thực tập về một vài ngành, như: dân sự tố
tụng, hình sự tố tụng, v.v.
Còn
ở cấp Cao học thì tuy một số vấn đề hay đề mục chuyên biệt được giảng dạy, nhưng
cũng chỉ là lý thuyết thôi, hay nói cho đúng hơn là những vấn đề căn bản của
luật quốc tế được khai triển ở trình độ cao hơn, tỉ mỉ hơn. Vào giữa thập niên
1960 trong lớp Quốc tế Công pháp Thâm cứu ở năm thứ nhất, giáo sư
Lưu-văn-Bình đã cho các sinh viên thuyết trình về một số vấn đề thuộc luật quốc
tế.
Ngoài
ra, không có mấy tác giả Việt-nam viết sách giáo khoa hay bài báo về luật quốc
tế bằng Việt ngữ. Các giáo trình của các giáo sư thường được quay ronéo trong
năm học cho sinh viên dùng. Cho tới năm 1975, ở miền nam Việt-nam chỉ có 4 sách
giáo khoa về luật quốc tế do bốn giáo sư của Trường Luật Sài-gòn biên soạn được
xuất bản: hai sách về quốc tế công pháp, một của giáo sư
Lưu-văn-Bình và một của giáo sư Tăng-kim-Ðống, cùng hai sách về quốc tế tư
pháp, một của giáo sư Nguyễn-xuân-Chánh và một của giáo sư
Nguyễn-huy-Chiểu(2).
Các
sinh viên nào biết Pháp ngữ, nếu muốn, có thể trau giồi kiến thức thêm nhờ các
tài liệu về luật quốc tế viết bằng Pháp ngữ có rất nhiều trong thư viện trường
luật. Tới cuối thời Cộng hoà thì thư viện các trường luật ở miền nam Việt-nam
mới có một ít sách vở báo chí về luật quốc tế viết bằng Anh ngữ.
Mặt
khác, theo chỗ chúng tôi được biết, ở miền bắc Việt-nam trước năm 1975 cũng như
trong cả nước sau năm đó không có sách giáo khoa hay báo san nào chuyên về luật
quốc tế do người Việt-nam viết bằng Việt ngữ. Hầu hết các tài liệu về luật quốc
tế, dưới hình thức bài khảo cứu hay phê bình, đều được đăng trong các tập san
pháp lý, thí dụ như Luật Học (sau đổi tên là Nhà Nước và Pháp Luật).
Sau hết, có
hai điểm đáng chú ý.
- Thứ nhất, giống trong thời Pháp thuộc, các
trường luật ở Việt-nam trong thời Cộng-hòa đã cấp rất nhiều văn bằng về luật,
cử nhân cũng như tiến sĩ, nhưng toàn là về công pháp, tư pháp, hay kinh tế, chứ
không có ai viết luận án tiến sĩ nào về luật quốc tế cả.
- Thứ hai, trong 20 năm 1955-1975 đã có vài giáo
sư thỉnh giảng ngoại quốc đến dạy ở các trường luật ở miền nam Việt-nam, nhưng
không có ai diễn giảng về luật quốc tế. Thường là họ giảng dạy về luật hiến
pháp đối chiếu, hình luật đối chiếu, luật hàng hải, chính trị, kinh tế, v.v.
II/- SỰ THỜ Ơ LÃNH ÐẠM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ÐỐI
VỚI LUẬT QUỐC TẾ
Như đã nói
trong phần I bên trên, luật quốc tế Tây phương chỉ du nhập Việt-nam từ cuối
thập niên 1910 mà thôi. Trước đó, nước Việt không biết đến và cũng không quan
tâm đến luật quốc tế mà người Tây phương hiểu và thực hành. Ðấy là
chưa nói trước thế kỷ thứ 19, nước Việt không có bang giao với các quốc gia Tây
phương, mặc dù từ thế kỷ thứ 16 đã có một số thương nhân và giáo sĩ Hòa-lan,
Anh, Pháp, Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha tới buôn bán hay giảng đạo. Chỉ từ hậu bán
thế kỷ thứ 19, khi triều đình Việt phải ứng phó với người Pháp, lúc đó có dã
tâm muốn thống trị nước Việt, thì mới được biết có một hệ thống luật lệ gọi là
luật quốc tế. Tuy nhiên, xét cho kỹ thì chúng ta thấy một số qui tắc
mà triều đình Việt áp dụng trong việc bang giao với các lân bang, có phần tương
tự các nguyên tắc của luật quốc tế Tây phuơng.
Do
ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, nước Việt trước khi bị Pháp đô hộ đã chú trọng
đến “lễ” nhiều hơn là “pháp” trong quan hệ giữa con người với con
người cũng như là trong các giao dịch quốc tế.
“Lễ”
là để duy trì trật tự và hòa hợp trong xã hội ngõ hầu người ta có thể sống
trong thanh bình an lạc. Sự thanh bình an lạc này sẽ mất đi khi trật tự và hòa
hợp xã hội bị rối loạn hay đứt đoạn do những hành động phạm pháp tạo nên. Lúc
đó “pháp”, nghĩa là luật, trở nên cần thiết để ngăn chặn những hành động sai
lầm, nguồn gốc của mọi rối loạn, bất an, mất trật tự trong xã hội. “Pháp” được
sử dụng để trừng phạt mọi sự vi phạm đến những tiêu chuẩn, những qui
phạm được xã hội nhìn nhận và thi hành.
Giống
như trong tương quan giữa những người trong cùng một nước, người Việt tin rằng
có một sự hòa hợp và quân bình trong bang giao giữa các nước với nhau, mặc dù,
vì một số yếu tố, có nước giàu có nước nghèo, có nước lớn có nước nhỏ, có nước
mạnh có nước yếu, có nước tiến bộ có nước lạc hậu, v.v. Sự hòa hợp và quân bình
này cần phải được duy trì bằng "lễ", chứ không phải bằng
"pháp".
"Lễ"
đòi hỏi việc bang giao giữa các quốc gia phải được đặt trên nền tảng bình đằng.
Vì thế nước Việt đã khai triển một hệ thống luật lệ để đối xử với ngoại bang
trên căn bản này, chủ yếu gồm những lễ nghi chi phối việc tiếp xúc giữa các vua
chúa Việt ở kinh đô với các sứ giả ngoại quốc tới thăm viếng, cũng như các qui
tắc liên quan đến việc nhận quà tặng của các vua chúa Trung-quốc hay vật triều
cống của các nước nhỏ hơn. Hình thức thể hiện quan trọng nhất của “lễ” trong
bang giao quốc tế là triều cống.
Ðối
với Trung-quốc thì từ năm 972, dưới thời nhà Ðinh (968-980), nước Việt bắt đầu
thi hành chính sách triều cống Trung-quốc.
Người
Việt quan niệm rằng việc triều cống là một chính sách khôn ngoan, mục đích là
để làm hài lòng láng giềng khổng lồ, hiếu chiến, tham lam là Trung-quốc để có
thể sống trong hòa bình mà phát triển và tiến bộ. Việc này không có nghĩa là
nước Việt là một thuộc địa hay thuộc quốc của Trung-quốc, mặc dù Trung-quốc
suốt trong hơn 11 thế kỷ đô hộ (207/180 TCN – 939 SCN) đã nhiều lần cải biến
nước Việt thành một tỉnh cực nam của Trung-quốc, mà chỉ là một dấu hiệu chứng
tỏ nước Việt nhìn nhận uy thế của Trung-quốc, nhưng không bao giờ chịu thuần
phục Trung-quốc hay nghe theo lệnh của Trung-quốc.
Tuy
nhiên, việc triều cống không có tính cách thường xuyên. Nước Việt chỉ nộp triều
cống khi nào bị suy yếu và Trung-quốc hùng mạnh; trái lại, khi nào nước Việt
hùng mạnh còn Trung-quốc suy yếu thì nước Việt tìm đủ mọi cách để trì hoãn hay
không nộp triều cống. Hơn nữa, những đòi hỏi yêu sách vật chất của
Trung-quốc đều được đáp ứng một cách miễn cưỡng, không đều đặn, còn những yêu
sách chính trị hay quân sự đều bị từ chối bằng nhiều lý do.
Ngay
cả sự kiện là từ năm 972 trở đi Trung-quốc thường sắc phong cho các vua Việt
cũng không vì thế làm cho nước Việt mất độc lập và chủ quyền. Do đó, kể từ khi
nước Việt giành được độc lập năm 939 trở đi, Trung-quốc nhiều lần ïtìm cách
thôn tính nước Việt nhưng lần nào cũng bị đánh bại một cách thảm thương. Tuy
nhiên, sau mỗi lần phá tan âm mưu xâm lăng của Trung-quốc, nghĩa là đã sử dụng
"pháp", các vua Việt bao giờ cũng gửi đồ triều cống sang Trung-quốc,
không phải vì sợ nước khổng lồ phương bắc này sẽ trả thù mà là vì muốn tái lập
hòa bình thân thiện với Trung-quốc.
Còn
đối với việc bang giao với các nước nhỏ hơn, như Ai-lao, Cao-miên, Chiêm-thành,
v.v., nước Việt đã đối xử với những nước này trên căn bản bình đẳng, mặc dù
nước Việt cũng đòi hỏi các nước này triều cống.
Ðối
với người dân Việt, chế độ triều cống, một hình thức của lễ, là một phương thức
thích hợp để duy trì hòa hợp và trật tự giữa các quốc gia. Chỉ khi nào có sự vi
phạm hay tội phạm xảy ra thì "pháp", tức là sức mạnh quân sự, mới
được sử dụng để đòi lại lẽ công bằng. Tuy nhiên, sau khi sử dụng “pháp” xong,
"lễ ” được sử dụng lại ngay để tạo nên tình trạng bang giao hòa thuận thân
thiện với nước làm điều sai. Nói cách khác, "lễ" là phương pháp chính
yếu trong việc thi hành bang giao với các nước, được dùng với các nước thân
hữu; còn "pháp", dưới hình thức trừng trị bằng phương tiện quân sự,
dành cho những nước địch, chỉ được sử dụng khi nước nào xâm phạm chủ quyền, uy
quyền , sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt.
Còn
như cái gọi là luật quốc tế thì chỉ là một sáng tác của người Tây phương, mới
hình thành từ giữa thế kỷ thứ 17 để đáp ứng với các nhu cầu của những quốc gia
tân lập đã làm tan vỡ cộng động chính trị và tinh thần ngự trị toàn châu Âu từ
thời Ðế quốc La-mã, với mục đích phát triển một hệ thống quân bình thế lực, ngõ
hầu ngăn chặn không cho một nước có thể thống trị nước khác được.
Hêä thống luật quốc tế này không thích hợp với các qui tắc về bang giao quốc tế
mà các nước Ðông phương, độc lập từ lâu trước khi các quốc gia Âu-châu được
thành lập, như là Việt-nam, Trung-quốc, Nhật-bản, Triều-tiên, v.v., đã theo.
Ðấy
là chưa kể việc, sau khi đã nếm những kinh nghiệm đau đớn trong việc đối phó và
thương thuyết với người Pháp trong thế kỷ thứ 19, người Việt-nam đã có một thái
độ hoài nghi đối với luật quốc tế Tây phương, nhất là còn vì thấy người Âu Mỹ
có thiên kiến với người Á-châu, coi người Á-châu là man di mọi rợ, lạc hậu, kém
hay không có văn minh, vô đạo hay tà đạo, v.v., và khinh bỉ người Á-châu, coi
họ là cu-li, là giống dân thấp kém hạ lưu, cùng là bóc lột họ đến tận xương tận
tủy.
Người
Việt còn biết rằng mặc dù các nước Tây phương cạnh tranh nhau trong việc buôn
bán, truyền đạo, gây vùng ảnh hưởng, vùng thế lực, v.v., nhưng khi cần đến họ
không chịu giúp đỡ người Việt, bởi vì dù là đối thủ với nhau, nhưng họ cũng là
những dân tộc đồng chủng, có quan hệ mật thiết với nhau về vị trí địa dư, về
bối cảnh lịch sử, về nền tảng văn hóa, về ý thức hệ tôn giáo, cho nên khi cần,
họ sẽ ủng hộ đối thủ của mình hơn là ủng hộ người Á châu, là những dân tộc xa
lạ đối với họ về mọi phương diện. Do đó, người Việt tin rằng, khi
cần, người Âu Mỹ chắc chắn sẽ không áp dụng những qui tắc luật quốc tế một cách
công bằng đối với người Á-châu nói chung và người Việt-nam nói riêng.
Sự
tin tưởng của người Việt-nam không phải là vô căn cứ. Lịch sử đầy rẫy những thí
dụ chứng minh là họ tin đúng.
Chúng
ta có thể kể một thí dụ. Sau khi Nhật-bản đầu hàng các quốc gia Ðồng-minh, chấm
dứt trận Thế Chiến II (1939-1945), ngày 6.9.1945 khi quân đội Anh tới miền nam
Việt-nam ở phía nam vĩ tuyến thứ 16 để giải giới quân đội chiếm đóng Nhật-bản
chiếu theo sự thỏa thuận của các Cường Quốc Ðồng-minh tại Hội nghị Potsdam
tháng 7 cùng năm, họ đã cho quân đội Pháp đi theo và cho phép quân Pháp chiếm
lại miền nam Việt-nam với mục đích biến Việt-nam thành thuộc địa của Pháp một
lần nữa. Hành động này của nước Anh đã vi phạm chương trình của các Cường Quốc
Ðồng-minh và không thèm đếm xỉa gì đến sự phản đối của Việt-nam. Hơn nữa, việc
này đã mở đường cho cuộc chiến tranh đẫm máu và tốn kém kéo dài 9 năm
(1945-1954).
Chúng ta
cũng nên nhớ rằng tại Hội Nghị Geneva (nhóm họp từ ngày 8/5 đến ngày 20/7/1954)
để chấm dứt trận chiến tranh này, một lần nữa người Anh lại kế hoạch và tích
cực vận động cho giải pháp chia đôi nước Việt-nam, bất chấp sự phản đối của
nhân dân Việt-nam, một hành động đưa đến trận chiến tranh thứ hai (1960-1975),
giết chết hàng triệu nhân mạng, kể Việt-nam lẫn ngoại quốc, và tốn hàng tỉ mỹ
kim.
III/- CÁC TRỞ NGẠI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN LUẬT QUỐC
TẾ Ở VIỆT NAM.
Sự
chậm phát triển của luật quốc tế ở Việt-nam còn vì nhiều nguyên nhân khác nữa,
như là ít có cơ hội phát triển luật quốc tế, chuyên viên về luật quốc tế ít có
cơ hội làm việc trong lãnh vực tư, ít có người thích thú nghiên cứu và hoạt
động để phổ biến luật quốc tế, v.v.
A. Luật Quốc Tế Ít Có Cơ Hội Phát Triển
Vào
lúc luật qốc tế Tây phương được giảng dạy ở Việt-nam thì nước Việt đã không còn
độc lập và mất hết chủ quyền, cả về đối nội lẫn đối ngoại, sau khi bị Pháp đánh
bại về quân sự nhiều lần và bị bắt buộc phải lần lượt ký 4 hiệp ước với Pháp
ngày 5.6.1862, 15.3.1874, 25.8.1883, và 6.6.1884. Do hai hiệp ước
1883 và 1884, miền nam nước Việt (Nam-kỳ) đã biến thành thuộc địa Pháp, trong
khi miền bắc (Bắc-kỳ) trở thành xứ bảo hộ của Pháp, ngoại trừ hai thành phố Hà-nội
và Hải-phòng được cải làm nhượng địa của Pháp, còn miền trung (Trung-kỳ) –
ngoại trừ Ðà-nẵng, một nhượng địa khác của Pháp -- tuy trên danh nghĩa vẫn là
do triều đình Việt cai trị, nhưng trong thực tế cũng biến thành xứ bảo hộ của
Pháp. Với sự đô hộ của Pháp, các bang giao đối ngoại của nước Viêït bị chấm
dứt.
Hơn
nữa, ngày 9.6.1885, Trung-quốc đã ký một hiệp ước với Pháp, công nhận quyền cai
trị của Pháp đối với Việt-nam. Quan hệ ngoại giao của Trung-quốc với Việt-nam,
tồn tại hơn 20 thế kỷ, chấm dứt, Trung-quốc không còn can thiệp vào những việc
nội bộ của Việt-nam, không còn được nhận triều cống của Việt-nam nữa.
Trung-quốc chỉ còn duy trì liên lạc thương mại với Việt-nam, nhưng qua sự chỉ
huy, giám sát, và kiểm soát của Pháp.
Mặt
khác, bang giao giữa Việt-nam và Ai-lao, Cao-miên cũng bị chấm dứt. Ngay cả mọi
liên lạc của Việt-nam với các nước Âu-châu, tuy không nhiều và không thường
xuyên, cũng không còn tồn tại nữa.
Từ
đó trở đi, Pháp nắm giữ tất cả các việc tiếp xúc và giao dịch giữa nước Việt và
các nước khác, kể cả Trung-quốc, và Pháp đại diện Việt-nam trong mọi việc giao
dịch với các nước khác cũng như là bảo vệ người Việt-nam ở ngoại quốc. Theo qui
định của Hiệp ước 1884, Việt-nam chỉ có thể thiết lập bang giao chính thức với
các nước ngoài qua trung gian của Pháp. Tuy nhiên, đó chỉ là trên lý thuyết
thôi, chứ trên thực tế, trong suốt thời Pháp thuộc, Việt-nam không có cơ hội
thiết lập quan hệ ngoại giao với một nước nào cả.
Việc
mất chủ quyền vào tay Pháp đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của luật
quốc tế ở Việt-nam, mặc dù, như đã nói ở phần I, luật quốc tế được giảng dạy ở
Việt-nam từ cuối thập niên 1910. Nếu có người Việt-nam nào chuyên về quốc tế
công pháp thì sẽ thấy không có cơ hội sử dụng chuyên môn của mình, còn nếu
chuyên về quốc tế tư pháp thì may ra mới có dịp sử
dụng.
Vì
Pháp hoàn toàn kiểm soát và liệu lý các giao dịch đối ngoại của Việt-nam, kể cả
việc đối xử với các ngoại kiều cư trú trên lãnh thổ Việt-nam cũng như việc tài
phán các tranh chấp có liên quan tới những người không phải là Việt-nam. Ðấy là
chưa nói đến việc Pháp liệu lý các vấn đề đối ngoại của Việt-nam ở bên Pháp,
chứ không phải là ở Việt-nam, và trong hoạt động này người Việt-nam không được
phép tham dự. Một đôi khi có trường hợp cần đến người chuyên về luật quốc tế,
nhưng trong hầu hết trường hợp, chuyên viên Việt-nam có quốc tịch
Pháp trước khi chuyên môn của họ được sử dụng. Như vậy người ấy hành xử chuyên
môn của mình với tư cách là công dân Pháp, chứ không phải là công dân Việt-nam,
và lẽ dĩ nhiên phải theo chính sách hay lập trường của Pháp.
Tình
trạng này không được cải thiện mấy sau khi chế độ đô hộ Pháp bị chấm dứt, mặc
dù từ đó trở đi các luật gia và sinh viên luật đã chú ý tới luật quốc tế.
Thực
vậy, hai ngày sau khi chính phủ đô hộ Pháp bị lật đổ trong một cuộc đảo chính
của quân đội chiếm đóng Nhật-bản ngày 6.3.1945, vua Bảo-đại (1925-1945) tuyên
bố Việt-nam độc lập và bãi bỏ các hiệp ước Việt-nam bị bắt buộc phải ký với
Pháp trong hậu bán thế kỷ thứ 19. Tiếp theo đó Ðảng Cộng sản Việt-nam đã cướp
chính quyền ngày 19.8.1945, rồi đến hai trận chiến tranh 1946-1954 (thường gọi
là Việt Chiến I) và 1960-1975 (thường gọi là Việt Chiến II).
Trong
30 năm trời, 1945-1975, Việt-nam đã có nhiều cơ hội tham dự vào những hoạt động
của cộng đồng quốc tế. Việt-nam cũng là một trong những tác nhân của những biến
cố có liên quan hay tạo nên nhiều vấn đề thuộc lãnh vực luật quốc tế.
Ngay
khi vừa mới tuyên bố độc lập, Việt-nam đã cố thoát khỏi sự kiểm soát của quân
đội chiếm đóng Nhật-bản và lấy lại các cơ sở hành chính vẫn còn nằm trong tay
họ. Rồi đến khi Nhật-bản đầu hàng các Cường Quốc Ðồng-minh tháng 8.1945,
Việt-nam phải đương đầu với một tình trạng đất nước bị các Cường Quốc Ðồng-minh
chia đôi để giải giới quân đội chiếm đóng Nhật-bản, với vĩ tuyến thứ 16 làm
ranh giới: miền bắc trao cho Quốc quân Trung-hoa và miền nam trao cho quân đội
Anh. Trong thời gian quân đội hai nước này chiếm đóng, tại cả hai miền đã có
nhiều vụ xung đột có võ trang. Ở miền nam, quân đội viễn chinh Pháp được quân
đội Anh cho đi theo vào miền Nam và, được sự phê chuẩn của Anh, đã
chiếm đóng Sài-gòn để lập lại sự đô hộ. Mặt khác, khi quân đội chiếm đóng
Trung-quốc, thi hành Hiệp ước Pháp-Hoa 28.2.1946, rời Việt-nam tháng 6.1946,
thì ở các địa phương những vụ đụng độ giữa người Việt và người Pháp gia tăng
rất nhanh, không sao kiểm soát được, và cuối cùng chiến tranh toàn quốc bùng nổ
ngày 19.12.1946. Cuộc Toàn Quốc Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp này (Việt Chiến
I) kéo dài đến ngày 21.7.1954 mới chấm dứt.
Trong
khoảng thời gian từ ngày 6.3.1945 đến ngày 19.12.1946 Việt-nam đã thương thuyết
vài lần với Trung-hoa Dân quốc để làm giảm bớt gánh nặng chính trị, quân sự và
kinh tế do đoàn quân chiếm đóng của nước này đem lại, nhất là với Pháp ngõ hầu
có thể bảo vệ nền độc lập và chủ quyền mới lấy lại được. Những cuộc thương
thuyết này đã đem lại một số hiệp ước, thỏa ước.
Việc
đoàn quân viễn chinh Pháp cố chiếm lại Việt-nam để tái lập sự đô hộ của Pháp
cuối cùng đã đưa đến cuộc chiến tranh kéo dài ngót 8 năm.
Trong
khi cuộc chiến tranh tiếp diễn càng ngày càng khốc liệt thì chính phủ Pháp bắt
đầu mở một loạt những cuộc thương thuyết với cựu hoàng Bảo-đại với mục đích
thành lập một chính quyền không Cộng sản ở trong những vùng do Pháp cai
trị. Những cuộc thương thuyết này đã khai sinh Quốc Gia Việït-nam
(ngày 1.7.1949) do Bảo-đại đứng đầu với danh nghĩa Quốc trưởng. Chính thể mới
này đã lập tức được Hoa-kỳ, Anh, Pháp và một số nước khác, kể cả Tòa
Thánh Vatican, công nhận. Ðể đối lại, Trung-hoa Nhân dân Cộng hòa quốc,
Liên-bang Sô-viết, cũng như một số quốc gia Cộng sản và thân Cộng
sản đã công nhận Việt-nam Dân chủ Cộng hòa.
Cuộc
Việt Chiến I chấm dứt sau khi Pháp và VNDCCH ký Hiệp định Ðình chiến ở Việt-nam
ngày 20.7.1954, dưới quyền bảo trợ của ba nước Anh, Liên-bang
Sô-viết và Trung-hoa Nhân dân Cộng hòa quốc, là những nước đã triệu tập một hội
nghị quốc tế nhóm họp ở Geneva, Thụy-sĩ, từ ngày 8.5 đến ngày
21.7.1954. Ðiều đáng nói là tuy Quốc Gia Việt-nam và Hoa-kỳ cũng
tham dự hội nghị này nhưng không ký vào Hiệp định, vì hai nước này
phản đối việc chia đôi nước Việt-nam.
Hiệp
định Geneva chấm dứt chiến tranh ở Việt-nam và đồng thời chia đôi
nước này. Miền bắc Việt-nam ở phía bắc vĩ tuyến thứ 17 (ranh giới là sông Bến-hải)
thuộc VNDCCH, còn miền nam thuộc QGVN (từ ngày 26.10.1955 cải thành Việt-nam
Cộng hòa). Hơn nữa, chiếu theo sự thỏa thuận ngày 30.3.1956 giữa VNCH và Pháp,
quân đội Pháp đã hoàn toàn rút khỏi Việt-nam ngày 25.4. 1956. Kể từ đó VNCH
được hoàn toàn tự do đi theo đường lối do mình hoạch định.
Mặt
khác, Hiệp định Geneva còn thiết lập Ủy hội Quốc tế Giám sát và Kiểm soát
(thường gọi tắt là Ủy hội Quốc tế), thành viên gồm đại diện các nước Gia-nã-đại
(làm chủ tịch Ủy hội), Ấn-độ và Ba-lan, để giám sát và kiểm soát việc thi hành
Hiệp định. Ủy hội Quốc tế hoạt động ở cả hai vùng và báo cáo trực
tiếp cũng như hoàn toàn chịu trách nhiệm với Anh và Liên-sô, hai đồng chủ tịch
của Hội nghị Geneva.
Ðáng
tiếc là Hiệp định Geneva không chấm dứt được chiến tranh. Chẳng bao
lâu sau, chiến tranh lại tiếp diễn, tuy trên một phạm vi nhỏ hơn trong một thời
gian ngắn. Sáu năm sau (năm 1960), cuộc Việt Chiến II bùng nổ. Lần này, chiến
tranh giới hạn trong phần đất của VNCH, mặc dù từ giữa thập niên 1960 trở đi có
nhiều phi vụ phát xuất từ miền nam oanh tạc miền bắc và một số quốc gia khác
cũng dính líu vàc cuộc chiến, nhất là Hoa-kỳ, Ðại-Hàn Dân quốc, Úc, Tân
Tây-lan, v.v., đã gửi quân hay cố vấn quân sự sang giúp đỡ VNCH. Cuộc chiến
tranh này chỉ chấm dứt năm 1975 khi chế độ VNCH bị sụp đổ.
Khi
trận Việt Chiến II lên đến cao độ, năm 1968 một hội nghị quốc tế khác lại được
tổ chức, lần này ở Ba-lê, thủ đô của Pháp, để tìm cách chấm dứt chiến tranh ở
Việt-nam. Tham dự Hội nghị có VNCH, Hoa-kỳ, VNDCCH, Mặt trận Giải phóng
Miền Nam Việt-nam (gọi tắt là Mặt trận Giải phóng). Sau 5 năm thương
thuyết, ngày 27.1.1973 các phe tham dự đã ký một hiệp định. Một Ủy hội Quốc tế
khác được thành lập với cùng mục đích như Ủy hội Quốc tế trước, gọi là Ủy hội
Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, gồm đại diện các nước Gia-nã-đại (vẫn làm chủ
tịch Ủy hội, nhưng chỉ vài tháng sau thì Gia-nã-đại rút chân khỏi Ủy hội và đại
diện Indoenesia làm chủ tịch), Indonesia, Hung-gia-lợi và Ba-lan.
Tuy
nhiên, Hiệp định ký chưa ráo mực thì chiến tranh tiếp diễn ngay. Chỉ có một
điều Hiệp định được tuân hành là quân đội Hoa-kỳ rút ra khỏi VNCH. Cuối cùng
Hiệp định Paris không còn hiệu lực sau khi chế độ VNCH sụp đổ ngày
30.4.1975 và quốc gia thống nhất dưới sự cai trị của Ðảng Cộng sản Việt-nam.
Mặc
dù có chiến tranh, hai chế độ đã tung ra những cuộc ganh đua ngoại giao để được
quốc tế công nhận và ủng hộ, tham dự rất nhiều hội nghị quốc tế hay vùng, gia
nhập nhiều tổ chức quốc tế hay vùng, mở những cuộc thương thuyết và
ký nhiều hiệp ước, thỏa ước quốc tế hay vùng với nhiều nước khác và các tổ chức
quốc tế hay vùng, thiết lập các phái bộ ngoại giao và lãnh sự ở ngoại quốc,v.v.
Vì thế từ
năm 1945 đến năm 1975 Việt-nam đã có nhiều cơ hội để thêm kinh nghiệm về những
hoạt động quốc tế cũng như là về luật quốc tế. Ðó là những dịp tốt để học hỏi
và làm việc cho những người muốn chuyên về luật quốc tế. Ðáng tiếc là số các
chuyên gia và sinh viên chuyên về luật quốc tế trong khoảng thời gian này ở cả
hai vùng chẳng có tăng chút nào.
B. Chính Quyền Không Quan Tâm Ðến Việc Sử
Dụng Chuyên Viên Về Luật Quốc Tế
Tình
trạng đáng buồn này phần lớn là do chính quyền cả hai miền đã không quan tâm
đến việc sử dụng chuyên viên về luật quốc tế và cũng không tạo nên
những cơ hội để xúc tiến phát triển luật quốc tế trong miền chính phủ cai
quản.
Sau
năm 1945, một chuyên viên về quốc tế công pháp, nếu có, vẫn không tìm thấy chỗ
có thể sử dụng chuyên môn của mình trong các cơ quan chính quyền, nhất là trong
Bộ Ngoại giao, nơi có lập những nha, sở hay ty phụ trách các vấn đề quốc tế hay
luật quốc tế, kể cả những hiệp ước hay thỏa uớc quốc tế khác, cũng như những
nhiệm sở ngoại giao và lãnh sự ở ngoại quốc.
Ở
VNDCCH, việc tuyển dụng các nhân viên ngoại giao và lãnh sự chủ yếu căn cứ vào
việc họ là đảng viên Ðảng Cộng sản Việt-nam hay những tổ chức, đoàn thể hay hội
đoàn phụ thuộc Ðảng, và vào sự trung thành của họ với chế độ, chứ không vào học
vấn, nhất là kiến thức về luật quốc tế của họ.
Còn
ở vùng dưới quyền kiểm soát của chính quyền quốc gia, tình trạng cũng không khá
hơn. Chuyên môn về luật quốc tế không phải là một điều kiện đòi hỏi nơi người
muốn gia nhập ngành ngoại giao và lãnh sự.
Trước
năm 1965, các nhân viên ngoại giao và lãnh sự, được tuyển chọn trong số những
người được tiến cử hay qua những kỳ thi vấn đáp, trong đó thí sinh được hỏi về
nhiều vấn đề thuộc nhiều lãnh vực. Tuy trong những kỳ thi vấn đáp này thí sinh
có thể bị hỏi về những vấn đề thuộc luật quốc tế, nhưng kiến thức về luật quốc
tế không bao giờ được nhấn mạnh. Hơn nữa, các thí sinh không nhất thiết phải
tốt nghiệp trường luật, mà còn có thể là những người tốt nghiệp các trường đại
học khác nữa. Ngay cả các giám khảo cũng không có ai là chuyên gia về luật quốc
tế.
Chỉ từ năm 1965 Bộ Ngoại giao VNCH
mới tổ chức những khóa thi chính thức tuyển nhân viên ngoại giao và lãnh sự. Kỳ
thi tuyển đầu tiên, được tổ chức vào tháng 5.1965, gồm có hai bài thi viết, thí
sinh phải viết dưới hình thức luận văn, và một bài thi vấn đáp. Ðối với bài thi
viết thứ nhất, thí sinh được chọn viết về một đề tài thuộc luật hiến pháp, hay
một đề tài thuộc môn chính trị. Ðối với bài thi viết thứ hai cũng vậy, thí sinh
được chọn viết về một đề tài thuộc môn kinh tế tài chính hoặc một đề tài về
lịch sử Việt-nam. Những thí sinh nào qua được kỳ thi viết thì vào thi vấn đáp,
và phải trình bày, bằng Anh ngữ hay Pháp ngữ, một vấn đề thuộc môn
dân luẫt, luật hiến pháp, luật quốc tế, kinh tế học, tài chính học, chính trị
học, văn hóa, lịch sử, địa lý, v.v., tùy theo bốc thăm trúng đề tài nào. Các
khóa thi sau vẫn theo phương thức đó.
Ðiều
đáng nói là kiến thức về luật quốc tế vẫn không phải là điều kiện chính yếu đòi
hỏi nơi thí sinh, bởi vì thí sinh có thể tham dự những kỳ thi tuyển nhân viên
ngoại giao và lãnh sự miễn là đã tốt nghiệp đại học, bất luận thuộc ngành nào.
Vì thế chúng ta mới thấy có những người tốt nghiệp với bằng Cử nhân Văn khoa
hay Cử nhân Khoa học, lại có những người tốt nghiệp Ðại học Sư phạm, Học viện
Quốc gia Hành chính, v.v., cũng được tuyển làm nhân viên ngoại giao và lãnh sự
ngang hàng với những người có bằng Cử nhân Luật khoa, nếu qua được hai kỳ thi
viết và thi vấn đáp. Hơn nữa, người có bằng Cử nhân Luật khoa có thể chuyên về
ngành công pháp, ngành tư pháp hay ngành kinh tế tài chính.
Vì
vậy ở Bộ Ngoại giao VNCH không có lấy một chuyên viên về luật quốc tế nào cả.
Hơn nữa, trong suốt 26 năm tồn tại (1949-1975) của Bộ Ngoại giao, Nha Tổ chức
và Hội nghị Quốc tế không có một nhân viên nào, kể cả các vị Giám đốc, là
chuyên viên về luật quốc tế. Ngay cả Phòng Hiệp ước Quốc tế của Nha
này là phòng phụ trách thu thập, phân loại các hiệp ước cũng như các thỏa ước
quốc tế mà VNCH đã ký kết hay gia nhập cũng chỉ là nhân viên ngạch hành chính
quản lý, chứ không phải là các nhân viên ở ngạch ngoại giao và lãnh sự, và
những nhân viên này không được huấn luyện về luật quốc tế.
Sau
hết, Bộ Ngoại giao VNCH không có lấy một cố vấn pháp lý, chứ đừng nói là một
ban cố vấn pháp lý. Các vấn đề pháp lý, nhất là những vấn đề thuộc lãnh vực
luật quốc tế, tùy vụ hay vấn đề, do Phòng Pháp lý
hay Phòng Lãnh sự thuộc Nha Văn hóa, Pháp lý, Lãnh sự và Hành chính
xử lý. Nhân viên của cả hai phòng này cũng không được huấn luyện về luật nói
chung và luật quốc tế nói riêng, mặc dù từ sau năm 1965 đôi khi nhân viên tốt
nghiệp trường luật được cử làm việc ở đây, nhưng chỉ là trong một thời gian
ngắn mà thôi. Ngay cả các vị giám đốc của Nha này cũng không có ai được huấn
luyện về luật, nhất là về luật quốc tế.
Một
điểm đáng chú ý là trong thời gian 1949-1975 có 3 Bộ trưởng Ngoại giao VNCH tốt
nghiệp trường luật: giáo sư Thạc sĩ Luật Vũ-văn-Mẫu (đồng thời cũng là khoa
trưởng đầu tiên của trường Ðại học Luật khoa Sài-gòn sau khi hệ thống đại học
được Pháp trao hoàn Việt-nam) và các luật sư Trần-chánh-Thành vàVương-văn-Bắc,
nhưng cả ba vị không chuyên về luật quốc tế. Mặt khác, rất ít trưởng nhiệm sở
ngoại giao hay lãnh sự, cũng như nhân viên của các nhiệm sở này tốt nghiệp luật
học, và những vị nào tốt nghiệp trường luật thì lại không chuyên về luật quốc
tế. Ngoại trừ một vị là ông Hà-vĩnh-Phương, mà chúng ta sẽ nói tới trong đoạn D
bên dưới.
Ði
xa hơn nữa, không một thành viên nào trong phái đoàn của cả hai chính thể tham
dự hai Hội nghị Geneva 1954 và Hội nghị Paris 1968-1973, cũng như hầu hết các
hội nghị quốc tế hay vùng khác, chuyên môn về luật quốc tế, tuy trong vài
trường hợp, chính phủ VNCH đã mướn cố Giáo sư Nguyễn-quốc-Ðịnh (xem thêm đoạn D
bên dưới) để cố vấn về một số vấn đề.
C. Ít Cơ Hội Làm Việc Trong Khu Vực Tư
Một
sinh viên luật muốn chuyên về Quốc tế Công pháp sẽ vấp phải một trở
ngại rất lớn: đó là không có cơ hội làm việc ở khu vực tư, còn nếu chuyên về
Quốc tế Tư pháp thì cũng chỉ có rất ít trường hợp được sử dụng chuyên môn
này.
Mặc
dù trong thời Pháp thuộc nước Việt-nam bị chia làm 3 “kỳ”, mỗi kỳ có những đạo
luật, bộ luật, pháp qui riêng, nhưng hiếm khi có những vụ phân tranh pháp luật,
bởi vì các đạo luật, bộ luật, pháp qui của các kỳ không khác nhau quá nhiều.
Thí dụ, khoảng 90% các điều khoản của bộ Hoàng-Việt Hộ Luật (tức Dân Luật
Trung-kỳ) 1936-1939 tương tự, nếu không thể nói là tương đồng với, các điều
khoản của bộ Dân Luật Bắc-kỳ 1931. Hơn nữa, ít có người dân ở kỳ này có tài sản
ở một kỳ khác. Vì vậy, trong suốt thời gian 83 năm thuộc Pháp có rất ít vụ phân
tranh pháp luật.
Mặt
khác, những án vụ có liên quan đến những người thuộc các quốc tịch khác nhau
cũng không tạo nên những vụ phân tranh pháp luật bởi vì người ngoại quốc cư ngụ
ở Việt-nam được đối xử với những đặc huệ khác người Việt-nam.
Thực vậy, trong thời Pháp thuộc ở Việt-nam, đứng về phương diện
pháp lý, cóù 4 loại người, theo thứ tự, là: người Pháp, người Âu-châu, người
được đồng hóa (les assimilés) và người Việt-nam. Người được đồng hóa hầu hết là
người Trung-hoa, bất luận là họ sinh đẻ ở Trung-quốc hay ở Việt-nam. Họ được
đồng hóa với người Âu-châu. Vì vậy những vụ tranh chấp hay kiện tụng trong đó
một bên là người Pháp, người Âu-châu hay người được đồng hóa đều thuộc thẩm
quyền của tòa án Pháp và được xét xử theo luật của nước Pháp. Luật Việt-nam,
ngay cả luật của Trung-kỳ (như đã nói ở phần III đoạn A bên trên, trên nguyên
tắc Trung-kỳ do triều đình Việt-nam cai trị), không có quyền chi phối họ. Chỉ
từ năm 1945 trở đi thì chuyên môn về quốc tế tư pháp mới có cơ hội sử dụng.
Sau khi lấy lại được độc lập và chủ quyền, Việt-nam bắt đầu làm
những luật lệ để áp dụng trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, trong khoảng thời
gian 1945-1954 lại có rất ít vụ cần sử dụng đến chuyên môn về quốc tế tư pháp.
Mặc
dù dã độc lập, nhưng chẳng bao lâu thì xảy ra cuộc Việt Chiến thứ I (ngày
19.12.1946) mà hậu quả là Việt-nam bị chia ra thành hai vùng.
Trong
những vùng do Cộng sản kiểm soát có rất ít người ngoại quốc và những người này
hầu hết từ những nước Cộng sản khác đến giúp đỡ chính quyền. Ngay việc buôn bán
với những nước không Cộng sản cũng không đáng kể. Hơn nữa, trong những vùng này
chỉ có luật lệ của VNDCCH mà thôi. Ðấy là chưa kể các nhân viên các tòa án ở
những vùng này là các cán bộ Cộng sản, rất ít người am hiểu luật lệ hay được
huấn luyện về luật; ngoài ra, luật sư ở đây không có một vai trò quan trọng
đáng kể nào. Vì vậy, số các vụ tranh chấp hay kiện cáo cần đến chuyên môn về
luật quốc tế, cả quốc tế công pháp lẫn quốc tế tư pháp, hầu như không
có.
Trong
khi đó, ở những vùng mới đầu do quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng sau được
đặt dưới quyền chính phủ quốc gia thì các định chế tư pháp được
thiết lập và các luật lệ được ban hành trong thời Pháp thuộc vẫn tiếp tục áp
dụng, với một vài đặc điểm đáng chú ý.
- Thứ nhất, chỉ còn người Pháp
vẫn tiếp tục được hưởng mọi ưu đãi thôi. Thỏa ướcViệt-Pháp 8.3.1949 qui định
rằng luật Pháp sẽ được áp dụng trong những vụ có liên can tới người Pháp (điều
V, khoản 3.2).
- Thứ hai, từ tháng 7/1949 đến
tháng 7/1954, những vụ dân sự và thương sự trong đó hoặc là những công dân
không phải là người Việt-nam trong Liên hiệp Pháp kiện nhau hay kiện ngưới
Việt-nam, hoặc là công dân của những nước mà Pháp đã có những qui ước liên quan
đến một đặc quyền thẩm phán, và một án kiện hình sự trong trường hợp những
người thuộc loại này vi phạm luật lệ có phương hại đến nước Pháp, đều do các
tòa án hỗn hợp Việt-Pháp xét xử (điều V, khoản 2).
Ðúng
lý ra trong những vụ này chuyên môn về quốc tế tư pháp có cơ hội được sử dụng.
Tuy nhiên, sự thực không phải như vậy. Hiệp định Việt-Pháp 1949 cũng qui định
rằng luật Việt-nam sẽ được áp dụng trong những vụ không có liên can
đến người Pháp; còn trong những trường hợp khác, luật Pháp sẽ được áp dụng
(điều V, khoản 3.3), và, nhất là, theo quán lệ của quốc tế tư pháp, các vấn đề
có liên quan tới thân trạng sẽ được luật lệ của quốc gia của những phe có liên
hệ (điều V, khoản 4) chi phối.
Chỉ từ sau năm 1956 trở đi chính phủ VNCH mới có những hoạt động
thay thế các luật lệ và pháp qui ban hành thời Pháp thuộc bằng những luật lệ và
pháp qui mới áp dụng cho toàn miền nam Việt-nam. Ở miền bắc, chính phủ VNDCCH
cũng có những nỗ lực tương tự.
Vì
càng ngày càng có nhiều người và công ty ngoại quốc đến VNCH hoạt động, làm
việc, làm các dịch vụ, lập gia đình, v.v., và vì thương mại giữa VNCH và các
nước khác gia tăng nhiều, việc phân tranh pháp luật không thể nào tránh dược.
Do đó, ngoài sự chuyên môn về luật tài chính quốc tế, luật thương mại quốc tế,
chuyên môn về quốc tế tư pháp cũng đã tương đối có cơ hội được sử dụng hơn là
chuyên môn về quốc tế công pháp. Tuy nhiên, đó chỉ là theo nguyên tắc thôi, chứ
trong thực tế, số các án vụ đòi hỏi chuyên môn về quốc tế tư pháp do các tòa án
VNCH thụ lý từ năm 1955 đến năm 1975 tương đối rất ít, bởi vì người Việt-nam
thích giải quyết bên ngoài tòa án mọi tranh chấp và chỉ vạn bất đắc dĩ, khi
không còn đường lối nào khác, mới tìm đến tòa án xin phân xử.
Việt-nam
là một nuớc nghèo. Người Việt ít có đủ khả năng tài chính để tận tụy làm những
gì ít kiếm được tiền, mặc dù sự tận tụy như vậy có lợi cho sự phát
triển của quốc gia. Do đó, cho dù một sinh viên muốn chuyên về luật quốc tế thì
cũng không thể hay không có khả năng học ngành luật không giúp người ấy kiếm
được việc làm hay cải thiện tình trạng của mình. Trong hoàn cảnh này, việc học
hỏi nghiên cứu luật quốc tế ở Việt-nam phát triển chậm là một việc dĩ nhiên, và
đó cũng là lý do cho tới nay có ít luật gia Việt-nam đã có những đóng góp đáng
kể vào việc phát triển luật quốc tế ở Việt-nam.
D. Thiếu Sự Quan Tâm và Hoạt Ðộng Xúc Tiến Việc Học Hỏi, Nghiên
Cứu Luật Quốc Tế
Sau
hết, cũng phải nói là các giới đại học và chuyên nghiệp đã thờ ơ lãnh đạm không
cổ xúy, khuyến khích, nâng đỡ, xúc tiến việc nghiên cứu, học hỏi luật quốc tế ở
trong nước.
Mặt khác, những người Việt-nam có học về luật quốc tế đa số lại
hoạt động ở ngoại quốc. Xin kể vài thí dụ.
Ðáng
kể nhất là cố giáo sư Nguyễn-quốc-Ðịnh thuộc Université de Droit, d'Economie et
de Sciences sociales de Paris. Giáo sư là tác giả của nhiều tác phẩm về quốc tế
công pháp viết bằng Pháp ngữ(3) và nhiều lần làm cố vấn cho các phái
đoàn Việt-nam, cũng như cho vài quốc gia nói tiếng Pháp, tại các hội nghị hay
thương thuyết quốc tế.
Một
luật gia khác là giáo sư Nguyễn-hữu-Trụ. Sau khi đậu bằng Cử nhân
Luật khoa và học hai năm Cao học Công pháp tại Trường Luật Sài-gòn,
giáo sư đã sang Thụy-sĩ theo học tại Institut Universitaire de Hautes Etudes
Internationales thuộc Université de Genève, và tốt nghiệp với bằng Tiến sĩ
Chính trị học. Luận án tiến sĩ của giáo sư, viết bằng Pháp ngữ, nhan đề là
Quelques Problèmes de Succession d’Etats Concernant le Viet-nam (được Emile
Bruylant, Bruxelles, xuất bản, 1970), trình bày một vấn đề thuộc luật quốc tế
có liên quan tới Việt-nam. Từ đó giáo sư chỉ dạy luật quốc tế ở ngoại quốc
thôi.
Ðiều
đáng tiếc là, theo chỗ chúng tôi được biết, hai giáo sư này chưa bao giờ dạy
luật quốc tế ở Việt-nam hay viết về những vấn đề thuộc luật quốc tế bằng Việt
ngữ, hoặc là dịch các tác phẩm về luật quốc tế của giáo sư hay của người khác
sang Việt ngữ. Vì vậy, rất ít người Việt-nam, nhất là những người thuộc thế hệ
trẻ không biết Pháp ngữ, có thể học hỏi những điều giảng dạy của giáo sư.
Một
số người khác tuy có tốt nghiệp về luật quốc tế nhưng đều hoặc là không dạy học
hoặc là chỉ dạy hay viết những môn không phải là luật nói chung hay luật quốc
tế nói riêng.
Hai
trong những người đó tốt nghiệp Viện Hàn lâm Luật Quốc tế ở The Hague
(Hòa-lan), là các ông Hà-vĩnh-Phương và Lê-thành-Khôi. Khi đang làm Sứ thần
toàn quyền tại toà Ðặc sứ VNCH (sau nâng lên làm tòa Ðại sứ) ở Bonn, thủ đô của
nước Cộng hòa Liên bang Ðức, trong thời Ðệ Nhất Cộng hòa (1955-1963), ông
Phương đã theo học một khóa về luật quốc tế tại Viện Hàn lâm Luật Quốc tế. Còn
ông Khôi tuy cũng tốt nghiệp tại Viện này nhưng chỉ dạy học ở bên Pháp và chỉ
viết về lịch sử và văn hóa Việt-nam thôi.
Người
thứ ba là ông Ðinh-Sơn, tốt nghiệp Master of Laws tại The Institute of Air and
Space Law thuộc McGill University ở Montreal, Canada.
Luận văn tốt nghiệp của ông, nhan đề L’Hélicoptère: Ses Différentes
Utilisation, Ses Problèmes Juridiques, không được xuất bản. Ông không hề dạy
học, diễn giảng hay viết về ngành chuyên môn của ông, mà chỉ làm việc tại các
phi trường ở Pháp và Việt-nam.
Mặt khác, ở VNCH, từ sau khi Viện Ðại học Sài-gòn được người Pháp
trao trả lại cho Việt-nam cho đến khi chế độ VNCH cáo chung ngày
30.4.1975 có vài giáo sư giảng dạy luật quốc tế, nhưng không vị nào
chuyên về ngành này.
Hai
giáo sư Lưu-văn-Bình và Tăng-kim-Ðông, ngoài các môn khác cũng dạy Quốc tế Công
pháp ở cả hai cấp Cử nhân và Cao học. Các giáo trình bằng Việt ngữ của hai vị
được quay ronéo cho sinh viên dùng. Ngoài ra, hai giáo sư cũng đã cho xuất bản
sách giáo khoa về luật quốc tế (xem chú thích 2).
Về
môn Quốc tế Tư Pháp có ba giáo sư Trịnh-đình-Tiêu, Nguyễn-xuân-Chánh và Nguyễn-huy-Chiểu.
Giáo
sư Tiêu dạy môn này ở năm thứ ba cấp Cử nhân tại hai Trường Luật Sài-gòn và Huế
trong vài năm rồi sang sống ở bên Pháp. Mới đầu giáo sư giảng dạy bằng Pháp
ngữ, sau đổi sang Việt ngữ. Tuy giáo sư có nhiều tác phẩm viết bằng Pháp ngữ và
in ở bên Pháp, nhưng, theo chỗ chúng tôi biết, hầu hết là về ngành
dân luật chứ không phải là quốc tế tư pháp, nhất là không có tác phẩm nào viết
bằng Việt ngữ in ở Việt-nam.
Giáo
sư Chánh thay thế giáo sư Tiêu. Giáo sư giảng dạy bằng Việt ngữ ở cấp Cử nhân
và Pháp ngữ ở cấp Cao học. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm của giáo sư viết về
dân luật là ngành chuyên môn của giáo sư, ngoại trừ một sách giáo khoa (xem chú
thích 2) và một bài báo về quốc tế tư pháp viết bằng Việt ngữ(4).
Sau
khi giáo sư Chánh rời Việt-nam khoảng năm 1965 sang định cư ở bên Pháp, giáo sư
Nguyễn-huy-Chiểu thay thế giáo sư Chánh và dạy quốc tế tư pháp cho tới năm
1975. Giáo sư cũng có xuất bản một sách giáo khoa về quốc tế tư pháp (xem chú
thích 2).
Việc
hầu hết các giáo sư này không viết mấy về luật quốc tế cũng không có gì là khó
hiểu. Lãnh vực chuyên môn chính của các vị không phải là luật quốc tế: đó là
luật hiến pháp trong trường hợp giáo sư Lưu-văn-Bình, hay dân luật đối với các
giáo sư Trịnh-đình-Tiêu, Nguyễn-xuân-Chánh, Nguyễn-huy-Chiểu, v.v.
Tới
đây chúng ta cũng nên nói đến ba điểm có ảnh hưởng đến việc phát triển luật
quốc tế ở Việt-nam.
Thứ
nhất, trong các tạp chí hay tập san luật ở Việt không có những mục hay bài điểm
sách để giới thiệu hay phê bình các sách mới xuất bản, chẳng những là sách về
luật quốc tế mà còn cả những sách về các ngành luật khác nữa, mặc dù có những
bài nghiên cứu hay bình luận về các phán quyết của các tòa án về nhiều ngành
luật hoặc về những đạo luật, bộ luật mới.
Thứ
hai, kết quả các khảo cứu, nghiên cứu của các giáo sư thường không được tồn trữ
trong các thư viện luật, nhất là thư viện của trường luật nơi giáo sư giảng dạy
để cho các sinh viên hay những người khác tham khảo.
Thứ
ba, ở VNCH không có định chế cấp học bổng hay trợ kim để nghiên cứu, khảo cứu.
Do đó, nếu không có đủ khả năng tài chính để đài thọ các phí tổn thì các sinh
viên không thể nào nghiên cứu, khảo cứu về một vấn đề luật nào đó, kể cả luật
quốc tế. Vì vậy, kiến thức chẳng những về luật quốc tế mà cả về các môn luật
khác nữa của các sinh viên chỉ giới hạn trong những gì giáo sư giảng dạy trong
lớp, hay, quá lắm là một vài sách báo mà sinh viên có thời giờ đọc thêm.
Hơn
nữa, không có một hội đoàn hay hiệp hội nào chuyên về luật quốc tế để xúc tiến
việc học hỏi, nghiên cứu ngành luật này. Ngay cả các luật sư đoàn, quốc gia
cũng như địa phương, cũng không có một ban, một nhóm chuyên nghiên cứu về luật
quốc tế. Sự thiếu sót này lẽ dĩ nhiên đưa đến kết quả là trong khoảng thời gian
1955-1975 không có một hội nghị, hội thảo, hay tọa đàm nào về luật quốc tế được
tổ chức ở VNCH, mặc dù đã có một số hội nghị quốc tế hay vùng về các lãnh vực
khác được tổ chức ở đây. Ngoài ra, không có luật gia hay luật sư nào đã tham dự
các hội nghị, hội thảo, hay tọa đàm về luật quốc tế tổ chức ở ngoại quốc, ngoại
trừ Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Vương-văn-Bắc, vốn là luật sư (nhưng không phải
là chuyên gia về luật quốc tế), đã tham dự Hội nghị Liên-hiệp-quốc về Luật Biển
tổ chức ở Caracas, Venezuela năm 1974.
Những
sự thiếu sót trong hai giới đại học và chuyên nghiệp này đưa tới sự khan hiếm
các tác phẩm nghiên cứu, khảo cứu, bình luận, biên khảo về luẫt quốc
tế.
Ở
QGVN và VNCH cho tới tháng 4.1975 đã có nhiều tạp chí hay tập san luật được
xuất bản, chẳng hạn Pháp Lý Tập San, Luật Học Kinh Tế Tạp Chí, Nghiên Cứu Hành
Chính, Revue Asienne de Droit Comparé, EROPA Review (5), v.v. Tuy nhiên, không
có một tạp chí hay tập san chuyên về luật quốc tế. Chỉ thỉnh thoảng mới có một
vài bài viết về một vấn đề thuộc luật quốc tế đăng trong tạp chí luật tổng quát
(thí dụ tạp chí Phổ Thông của một nhóm sinh viên tốt nghiệp luật và các giáo sư
Trường Luật Hà-nội xuất bản trước khi Việt-nam bị chia đôi năm 1954, mà hai
nhân vật chủ yếu là ông Ðào-văn-Tập, tốt nghiệp luật, và giáo sư luật
Vũ-văn-Mẫu; Quê Hương của một nhóm giáo sư Trường Luật Sài-gòn, chủ nhiệm là
giáo sư luật Nguyễn-cao-Hách), hay tạp chí thuộc ngành khác (như Tập San Quốc
Phòng của Trường Cao đẳng Quốc phòng VNCH), v.v.
Nói
tóm lại, nhiều nguyên nhân đã làm cho việc phổ biến và phát triển luật quốc tế
ở Việt-nam chậm chạp. Những nguyên nhân này không phải là hoàn toàn khó khăn,
không cách gì vượt khỏi. Với thiện tâm và cố gắng của những người có phận sự,
nhất là trong giới đại học và luật sư đoàn, luật quốc tế có thể phát triển mạnh
mẽ và nhanh được.
CSVLK Tạ Quốc Tuấn
Chú Thích
(1) Rất tiếc
là cho đến nay chúng tôi vẫn chưa kiếm được bản dịch Hoa văn của sách này; vì
vậy chúng tôi không rõ tên dịch giả Trung-quốc, năm bản dịch được xuất bản, tên
sách và tên tác giả, tên nhà xuất bản, năm xuất bản của ấn bản nguyên tác Anh
ngữ được dùng để dịch sang Hoa ngữ.
(2) Ðó là
các sách Quốc Tế Công Pháp của giáo sư Lưu-văn-Bình (không ghi tên nhà xuất
bản, Sài-gòn, 1973), Quốc Tế Công Pháp của giáo sư Tăng-kim-Ðông (Việt Hương,
Sài-gòn, tập I, 1975; tập II chưa được xuất bản), Phân Tranh Pháp Luật của giáo
sư Nguyễn-xuân-Chánh (Khai Trí, Sài-gòn, 1964) và Quốc Tế Tư Pháp của giáo sư
Nguyễn-huy-Chiểu (không ghi tên nhà xuất bản, Sài-gòn,
1973).
(3) Tác phẩm
quan trọng nhất của giáo sư là sách Droit International Public, do Librairie
Générale de Droit et Jurisprudence, Paris, xuất bản năm1975. Lần tái bản
thứ hai (do cùng nhà xuất bản) năm 1980, tác phẩm này đã được hai giáo sư
Patrick Daillier thuộc Université de Bretagne Occidentale và Alain Pellet thuộc
Université de Paris Nord hiệu đính và tăng bổ.
(4) Ðó là
bài “Vấn Ðề Phân Tranh Trong Thời Gian Trong Quốc Tế Tư Pháp” đăng trong Luật
Học Kinh Tế Tạp Chí, tập 8, số 1 (1963), tr. 17-36.
(5) (a) Pháp
Lý Tập San do Bộ Tư pháp xuất bản từ năm 1948. (b) Luật Học Kinh Tế Tạp Chí là
một quí san của Trường Luật Sài-gòn từ năm 1956. (c) Nghiên Cứu Hành Chánh, do
Hiệp hội Nghiên cứu Hành chính xuất bản với sự cộng tác của Học viện Quốc gia
Hành chính từ năm 1957. (d) Revue Asienne de Droit Compare là cơ quan ngôn luận
của Hiệp hội Luật Ðối chiếu, mà hội viên hầu hết là các giáo sư Trường Luật
Sài-gòn. (e) EROPA Review là bán niên san của The Eastern Regional
Organizations for Public Administration (EROPA).
Comments
Post a Comment