Diễn đàn Luật Pháp & Đời Sống:VIỆT NAM CẦN CÓ NỀN TƯ PHÁP ĐỘC LẬP - Teresa Trần Kiều Ngocj
Tham luận:
VIỆT NAM CẦN CÓ NỀN TƯ PHÁP ĐỘC LẬP
Teresa Trần Kiều Ngọc (Australia)

Có một ngày, Kiều Ngọc
được dịp dự buổi nói chuyện của Cựu Chánh Án của Tòa Án Tối Cao
Pháp Viện Úc Châu, Michael Kirby, vào năm 2009 tại Sài-gòn. Hôm đó, ông
đã nói 'dối' với BTC chức của đại hội LAWASIA là ông sẽ nói đề tài
nào đó nhưng thực tâm ông đã quyết định nói về 'Sự Quan Trọng Của
Nền Tư Pháp Độc Lập' giữa lòng TP. HCM!!! Kiều Ngọc chứng kiến tinh
thần bất khuất và tình yêu đại đồng ̣ông dành cho dân tộc VN. Trong
một hội trường lớn, Cựu Chánh Án Michael Kirby đã gióng lên tiếng
nói thay cho người dân Việt Nam. Trong hội trường gần 500 người ̣(trong
đó dưới một 100 người nước ngoài và còn lại hoàn toàn là LS và
thẩm phán Việt Nam), không một tiếng động, chỉ có tiếng nói hùng
mạnh chính nghĩa của một vị thẩm phán Úc. Kiều Ngọc quả thật xúc
động và chưa bao giờ nhận thấy mình bé nhỏ và khiếp nhược trước
nỗi đau thương của chính dân tộc mình như thế. Ngay sau khi Cựu Chánh
Án kết thúc bài nói chuyện, ông tức tốc rời khỏi hội trường trong
khách sạn và ra thẳng sân bay về Úc. Kiều Ngọc rượt theo và chạy
lại ôm ông. Kiều Ngọc nói lời tri ân đến ông và được ông khích lệ:
"Cô là người Việt Nam, lẽ đương nhiên với những gì cô có, cô sẽ
còn đóng góp cho đất nước của cô nhiều hơn tôi gấp ngàn lần!'.
Nay Kiều Ngọc chia sẻ bài
viết này đến anh chị em và đặc biệt các bạn cùng trang lứa, các
em...Chúng ta cần biết và cần hiểu tại sao chúng ta phải làm thay
đổi...Rất đơn giản, vì chúng ta là người con dân Việt! Chỉ có chúng
ta mới có thể đổi thay và đóng góp vào tương lai vận mệnh của tổ
quốc VN. Chỉ có chúng ta mới làm nên trang sử hào hùng cho dân tộc VN
mai sau!
Thương mến, Kiều Ngọc.
Trong đại hội của ngành tư pháp
Úc Châu năm 1996, Chánh Án Gerard Brennan của Tòa Án Tối Cao Úc Châu đã tuyên
bố: ‘tính độc lập của nền tư pháp là yếu
tố vô cùng quan trọng trong một đất nước dân chủ có pháp trị (rule of law)’.
Ðiều này có nghĩa là tất cả người dân được cai trị bởi pháp luật chứ không phải
do con người cai trị chúng ta. Nhất là đối với các cơ quan chính phủ, họ phải
tuân theo pháp luật và dẫn dắt người dân đi trên con đường pháp lý mà họ đã lập
ra một cách đúng đắn.
Vai trò của bộ tư pháp càng ngày càng trở nên quan trọng và là then chốt
chính yếu trong công cuộc xây dựng pháp luật, bảo vệ nhân quyền, và cải cách
kinh tế của một quốc gia. Bài viết này sẽ nêu lên một vài điểm chính được quốc
tế công nhận là cần thiết trong một nghành tư pháp độc lập và tiếp theo là sự
trình bày về tính độc lập của nền tư pháp Việt Nam hiện nay. Nhưng trước hết,
chúng ta cần hiểu về hai điểm quan trọng liên quan đến sự độc lập của nền tư
pháp như sau.
Tính Ðộc Lập Của Tư Pháp và Nguyên Tắc Pháp Trị
Nguyên tắc pháp trị có hai yếu tố: Thứ
nhất, luật phải quản trị được người dân và người dân tuân thủ theo những điều
pháp luật pháp đã quy; thứ đến, luật phải có khả năng cho người dân thi hành
được. Ðể duy trì pháp trị, bộ tư pháp (hay nghành tòa án) phải độc lập khỏi nhà
lập pháp hoặc chính phủ, và đòi hỏi nghành tư pháp phải có tính khách quan, vô
tư, không bị ràng buộc bởi bất cứ tác động nào trong quá trình xét xử.
Tính Ðộc Lập Của Tư Pháp và Vấn Ðề Bảo Vệ Nhân Quyền
Bản Tuyên Ngôn Hoàn Vũ về Nhân Quyền (Universal Declaration of Human Rights)
năm 1948 (điều 10) và Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị
(International Covenant on Civil and Political Rights) năm 1966 (điều 14) đã
tuyên bố: ‘bất cứ ai cũng đều được quyền xét xử một cách công khai và công bằng
bởi một toà án độc lập, có thẩm quyền khách quan và được thành lập bởi pháp
luật’. Trong Tuyên Ngôn còn có những điều khoản khác nhấn mạnh về tầm quan
trọng của nền tư pháp độc lập trong việc bảo vệ nhân quyền qua nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (điều 7),
quyền được bồi thường chính đáng (điều 8), và nguyên tắc suy đoán vô tội
(điều 11). Sau cùng là tất cả những quyền căn bản này phải được đảm bảo qua
tính độc lập của nền tư pháp.
SỰ ĐỘC LẬP CỦA NỀN TƯ PHÁP DƯỚI CÁI NHÌN CỦA QUỐC TẾ
1. Cơ Cấu Tổ
Chức của Nền Tư Pháp Tự Trị
1.1 Nguyên Tắc Ðộc Lập và Vô Tư
Nguyên tắc này được xem là nền
tảng căn bản nhất của một nền tư pháp độc lập. Thẩm phán hay quan tòa phải là
người vô tư và độc lập, có tự do thẩm định những dữ kiện và áp dụng luật trên
những dữ kiện đó mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một tác động nào. Có hai khía
cạnh về tính độc lập của nghành tư pháp: ngoại và nội. Ðộc lập về bề ngoài,
nghĩa là nghành tư pháp phải hoàn toàn độc lập khỏi mọi các cơ quan tổ chức; từ
nhà hành pháp, chính quyền, các đảng phái chính trị, các luật gia, giới báo
chí, các đương sự, cho đến bất kỳ những động lực nào khác nằm ngoài phạm vi bộ
tư pháp mà có thể san lấn việc tự trị của nghành tư pháp nói chung và cá nhân
vị thẩm phán nói riêng. Ðộc lập về mặt trong nghĩa là quan tòa phải độc lập
giữa các đồng nghiệp xung quanh, với cấp trên và ngay cả trước lợi ích cá nhân
của bản thân họ.
Sự liêm khiết vô tư đòi hỏi lúc
thi hành nhiệm vụ tư pháp, thẩm phán có trách nhiệm trước pháp luật và với
chính lương tâm của mình. Ở đây, ý niệm xét xử vô tư khác với sự độc lập, song
cả hai đều có sự liên đới với nhau. Ðộc lập liên quan đến nhiệm vụ của người
ngoại cuộc không phá rối việc xét xử của tòa án, trong khi ý niệm vô tư là
nhiệm vụ của tòa án không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động nào. Ðể duy trì tính
vô tư, Nguyên Tắc Bangalore (Bangalore Principles) đã nêu lên một số trường hợp
mà thẩm phán nên tự rút lui ra khỏi việc xét xử, nếu như:
(a) họ thấy mình thiên vị hoặc có
thành kiến với một đương sự hoặc có sự hiểu biết riêng về bằng chứng đang tranh
cãi trong vụ kiện;
(b) họ đã từng làm luật sư hoặc nhân
chứng có dính líu trong vụ án;
(c) sự thành quả của vụ án sẽ đem
lại lợi ích cho chính bản thân hoặc một thành viên trong gia đình họ.
1.2
Quyền Pháp Lý
Ðiều này
gồm có ba phần:
(a)
tòa án
được quyền giải quyết những vấn đề mang tính chất tư pháp;
(b) tòa án được quyền tự quyết định về thẩm quyền xét xử của mình;
(c) một khi tòa đã ra phán quyết thì không bị tái xét bởi bất kỳ một cơ quan
hay thế lực nào.
2. Chức Vụ Thẩm Phán Phải Ðược Bảo Ðảm
2.1 Nhiệm Kỳ Dài Hạn
Ý niệm này đòi hỏi chức vụ thẩm
phán phải được bổ nhiệm cả đời hoặc ít nhất là một khoảng thời gian dài cố định
để không nguy hại đến tính độc lập của nghành tòa án. Những cuộc nghiên cứu về
nghành tư pháp tại những đất nước đang phát triển cho thấy những vị thẩm phán
không được bổ nhiệm dài hạn có khuynh hướng làm việc theo chỉ thị của chính phủ
nhiều hơn là các vị thẩm phán có nhiệm kỳ dài hạn.
Tuy nhiên, cũng có người luận
rằng nhiệm kỳ ngắn hạn sẽ gia tăng trách nhiệm của các vị thẩm phán hơn, trong khi
nhiệm kỳ trọn đời hoặc dài hạn lại khích lệ tham nhũng và hối lộ trong nghành
tư pháp. Quan điểm của Lưu Tiến Dũng (cựu thư ký của Chánh Án Việt Nam) cho
rằng, một nhiệm kỳ trọn đời hoặc dài hạn sẽ giảm bớt khả năng tham nhũng của
thẩm phán. Lý do là nhiệm kỳ trọn đời hoặc dài hạn sẽ khuyến khích đương sự ý
thức rằng, khó mà hối lộ một thẩm phán có sự nghiệp vững chắc và cơ hội thẩm
phán từ chối không nhận tiền hối lộ sẽ cao hơn vì họ phải nghĩ đến chuyện bảo
vệ sự nghiệp sáng giá của mình. Thêm vào đó, nhiệm kỳ trọn đời sẽ gia tăng tính
độc lập của thẩm phán vì họ không phải lệ thuộc vào cấp trên hầu để được tái bổ
nhiệm chức vụ thẩm phán.
2.2 Hạn Chế Những Lý Do Cách Chức
Thẩm phán
không thể bị cách chức bởi bất kỳ lý do nào ngoại trừ bị bất lực hoặc bị hạnh
kiểm xấu. Bất lực nghĩa là bất cứ sự ràng buộc nào về thể chất hoặc tinh thần
khiến họ không thể thi hành nhiệm vụ xét xử được. Chỉ vì bị tòa án cấp trên đảo
ngược phán quyết của họ thì không thể cho đó là ‘bất lực’. Hạnh kiểm xấu bao
gồm tội hình sự, vi phạm pháp luật hoặc hành vi chểnh mảng tái phạm nhiều lần
khiến vị thẩm phán đó không còn thích hợp hay xứng đáng ngồi trên ghế quan tòa
nữa.
3. Lương
Bổng
Lương bổng của thẩm phán phải
được bảo đảm để họ có thể vô tư khách quan trong quá trình xét xử. Hơn thế nữa,
lương bổng thấp kém khiến cho nghành tư pháp trở nên thiếu hấp dẫn đối với
những luật sư tài giỏi thật sự. Gia tăng lương bổng trong nghành tòa án là yếu
tố quan trọng trong việc cải tiến phẩm chất của ngành tư pháp.
4. Trách
Nhiệm Tư Pháp
Tính độc lập của nền tư pháp
phải đi đôi với trách nhiệm. Nghành tư pháp phải được xem như là một công vụ để
dân chúng trông cậy và tin tưởng là quyền lợi của họ sẽ được phục vụ chính
đáng.
Trách nhiệm tư pháp phải được
hiểu là không giống với trách nhiệm của bộ lập pháp hay hành pháp hoặc như
những cơ quan khác. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về những phán quyết của
mình trong việc xét xử. Nếu như thẩm phán phạm tội hình sự, hoặc bị tố cáo hạnh
kiểm xấu, họ phải chịu bị bãi chức hoặc trừng phạt theo kỷ luật do luật quy
định. Nhưng họ không thể bị trừng phạt vì tòa án cấp trên đảo ngược phán quyết
của họ.
TƯ PHÁP
VIỆT NAM
1. Cơ Cấu
Tổ Chức
Thẩm quyền xét xử của các tòa án
Việt Nam được phân ra như sau:
- Tòa án thông thường: Các tòa án nhân dân, đứng đầu từ Tòa Án Nhân Dân Tối
Cao xuống đến Tòa Án Nhân Dân cấp Tỉnh rồi Tòa Án Nhân Dân cấp Huyện.
- Tòa Án Quân Sự; và Tòa Án Ðặc Biệt.
Tòa án nhân dân được quyền xử
tất cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành
chánh và giải quyết những vụ khác do luật quy định. Tòa án Quân Sự có thẩm
quyền xét xử tất cả vụ án có liên quan đến quyền lực quân sự, bao gồm hình sự,
dân sự, thương mại, kinh tế và hành chánh, mà trong những trường hợp đó bị cáo
hoặc một đương sự trong vụ án là quân nhân tại ngũ. Ðiều khoản trong hiến pháp
không nêu rõ thế nào là tình hình đặc biệt để thành lập những tòa án đặc biệt,
chỉ có một quan niệm rằng những loại tòa án đặc biệt này có thể cần đến khi có
chiến tranh xảy ra hoặc trong tình trạng khẩn cấp.
Chức năng của nghành tư pháp
Việt Nam vẫn còn rất hạn hẹp. So sánh với Úc, một bộ trưởng của chính phủ không
thể tùy tiện ra lệnh cho người dân thi hành một việc nào đó theo ý của ông hay
bà ta, chỉ trừ khi nào luật ban quyền đặc biệt nào đó cho phép vị bộ trưởng này
làm như thế. Chính vì vậy, một trong những chức năng đặc thù của thẩm phán ở Úc
là phải bảo đảm luật pháp được lập ra một cách đúng đắn và hợp lý; luật lệ phải
được giải thích rõ ràng cho người dân hiểu, hiến pháp Úc phải được phân tích
cặn kẽ khi xảy ra những vụ tranh chấp về quyền hạn lập pháp giữa hai cấp liên
bang và tiểu bang.
Trong khi đó, nền tư pháp Việt
Nam không thể xử những vụ kiện liên quan đến hiến pháp, cho dù là ngay cả việc
giải thích luật cũng không được. Ý niệm về duyệt xét các đạo luật có tính chất
lập hiến được ban hành từ Quốc Hội không được công nhận tại Việt Nam vì luật
pháp được lập ra bởi một quyền lực tối cao nhất trong nước. Sự giải thích hiến
pháp, luật và sắc lệnh được ủy nhiệm cho Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội. Việc mà tòa
có thể làm là áp dụng luật mà không cần giải thích luật phải hiểu như thế nào.
2. Thẩm
Phán và các Nhà Lãnh Ðạo Trong Tòa
Có một mối liên hệ mà thẩm phán
thường va chạm trong lúc thi hành nhiệm vụ tư pháp đó là mối liên hệ giữa một
thẩm phán với các nhà lãnh đạo trong tòa. Trong đó gồm có Chánh Án, Phó Chánh
Án, vị Giám Sát của thẩm phán. Chánh Án và Phó Chánh Án là những người rất có
uy khi tới giai đoạn đánh giá thành tích của các vị thẩm phán để thăng cấp, hay
bổ nhiệm cũng như áp dụng kỷ luật. Chính vì thế, mối liên hệ giữa những vị thẩm
phán và các bộ cơ quan lãnh đạo trong tòa được xem là rất ‘nhạy cảm’.
Tiến sĩ John Reitz về luật của
đại học Iowa đã góp ý về mối liên hệ này trong ngành tư pháp Việt Nam như
sau:‘vì các thẩm phán được bổ nhiệm bởi Chánh Án của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao,
mà chính bản thân Chánh Án lại được bổ nhiệm bởi chủ tịch nước. Dù chỉ là nhiệm
kỳ làm việc vỏn vẹn năm năm, nhưng các vị thẩm phán vẫn hay bị người đã bổ
nhiệm mình kêu lên để trình diện. Vì vậy, những phán quyết do thẩm phán đưa ra
cũng bị đung đưa theo cái gì gọi là ‘luật điện thoại’, nghĩa là một đảng viên
hoặc viên chức chính phủ có thể gọi điện thoại đến và mách bảo với một vị thẩm
phán là họ phải xét xử như thế nào’.
3. Nhiệm
Kỳ Nhậm Chức
Theo điều
128 của Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Năm 1992, ‘nhiệm kỳ của
Chánh Án của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao theo nhiệm kỳ của Quốc Hội (là 5 năm) và
điều 40 của Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân thì ‘ các thẩm phán Tòa Án Nhân Dân
Tối Cao và Tòa Án Quân Sự trung ương do Chủ Tịch nước bầu, miễn nhiệm, bãi miễn
và cách chức’.
Như vậy, ở đây có ba điểm đáng để suy xét. Ðiểm thứ nhất, những lý do để cách
chức một vị thẩm phán quá mơ hồ. Ví dụ, định nghĩa ‘một hành động sai trái’
theo Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là như thế nào? Ðiểm thứ hai, không
có điều khoản nào cho phép thẩm phán được quyền kháng án. Ðiểm thứ ba, không có
một thủ tục rõ ràng để kiểm xét lý do cách chức thẩm phán trước khi vấn đề đệ
trình lên Ủy Ban Tuyển Chọn Thẩm Phán (‘Ủy Ban’) để lấy quyết định cuối cùng.
4. Lương
Bổng
Thẩm phán Việt Nam được trả
lương rất thấp. Chi phí căn bản trong đời sống không đầy đủ, nên chuyện tham
nhũng nhận hối lộ trong nghành tư pháp Việt Nam không hiếm xảy ra. Thẩm phán đã
từng bị kết tội, hậu quả là vô ngồi tù vì chót nhận hối lộ. Ðiển hình như vụ án
của thẩm phán Nguyễn Thị Hường vào năm 2004 và vụ án Nguyễn Bá Quý tại Thanh
Hóa tháng 9 năm 2014.
5. Ðề Cử
và Bổ Nhiệm
Chủ tịch nước bổ nhiệm các thẩm
phán của Tòa Án Tối Cao và Chánh Án của tòa này sẽ bổ nhiệm các thẩm phán cho
những tòa án địa phương. Vấn đề đăng quảng cáo để chính thức tuyển chọn là
chuyện không có tại Việt Nam. Quá trình đề cử chỉ xoay quanh trong vòng nội bộ
của nghành tòa án. Việt Nam không có hệ thống một ghế trống mà lại có nhiều
nhân tuyển để chọn ra một thẩm phán. Vì vậy, các Ủy Ban chỉ bỏ phiếu cho một vị
đã được ‘dọn sẵn ra mâm’ và sau đó nhiệm vụ của ủy ban tuyển chọn thẩm phán là
bầu tín nhiệm hoặc không tín nhiệm mà không còn chọn lựa nào khác hơn.
5.1 Tiêu Chuẩn
Theo luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân năm 2002, tiêu chuẩn của người dự tuyển
trong ngành tòa án là:
(a) công dân Việt Nam;
(b) trung thành với tổ quốc và Hiến Pháp nước CHXHCNVN;
(c) có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên
quyết bảo vệ pháp lý XHCN;
(d) có bằng cử nhân luật và bằng tập sự;
(e) có sức khỏe để bảo đảm nhiệm vụ được giao.
Ðây là lần đầu tiên luật Việt Nam
đòi hỏi thẩm phán phải có bằng cử nhân luật và bằng tập sự. Tuy luật nói thế,
nhưng trong hội nghị triển khai công tác năm 2008 của nghành tòa án cho biết,
hiện còn hai trăm thẩm phán thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện chưa có
bằng đại học luật, vì đang thuộc diện ‘nợ tiêu chuẩn về trình độ’ theo quy
định.
5.2 Thủ
Tục Bổ Nhiệm
Từ một danh sách do Chủ Tịch của
Tòa Án Tối Cao soạn ra, Chủ Tịch Nước theo đó bổ nhiệm các thẩm phán của Tòa Án
Tối Cao. Nhưng trước đó, danh sách ấy phải thông qua Ủy Ban Tuyển Chọn Thẩm
Phán, mà đứng đầu là Chủ Tịch Tòa Án Tối Cao cùng với Bộ Quốc Phòng, Ủy Ban Mặt
Trận Tổ Quốc và các Luật Sư Ðoàn. Không có bộ luật nào giải thích rõ bằng cách
nào Chánh Án ra được một danh sách trên vì không có vấn đề đăng quảng cáo tuyển
chọn nhân dụng trong nghành tư pháp.
Thủ tục bổ nhiệm các nhân tuyển trong tòa án trước giờ là một thủ tục đề
xướng được áp dụng trong giới công chức, vì chức vụ thẩm phán cũng được xem là
việc công chức. Trước hết, sự tín nhiệm của người dự tuyển phải được những lá
phiếu tín nhiệm từ bạn bè đồng nghiệp chung đơn vị. Kế đến, kết quả giấu kín đó
sẽ được chuyển đến các nhà lãnh đạo trong tòa để lấy quyết định đưa vào danh
sách.
Người dự tuyển cũng cần phải
thông qua những người hàng xóm sống bên cạnh nhà mình. Những lời phê bình và ý
kiến đóng góp của người hàng xóm sẽ được thu thập và bổ túc vào hồ sơ của người
dự tuyển. Sau đó, Chánh Án sẽ kêu gọi một buổi họp với Ủy Ban, mà chính Chánh
Án là Chủ Tịch. Ủy Ban sẽ thảo luận tiểu sử của các nhân tuyển do Chánh Án đề
cử rồi bầu lên trên đó. Ủy Ban không được quyền cộng thêm bất kỳ nhân tuyển nào
khác vào trong danh sách. Kết quả của cuộc bầu bán sẽ được gửi đến văn phòng
của Chủ Tịch Nước để lấy quyết định cuối cùng.
Cũng cần biết rằng, Chánh Án của
Tòa Án Tối Cao là nghị viên của Quốc Hội và được chính Chủ Tịch Nước đề ra. Với
địa vị là nghị viên là đủ và người đó không cần phải đã từng làm thẩm phán bao
giờ để trở thành Chánh Án. Sau khi nhậm chức Chánh Án của Tòa Án Tối Cao, Chánh
Án lại tiếp tục theo đường dây chuyền bổ nhiệm các thẩm phán của cấp tỉnh và
huyện với thủ tục giống như trên.
Hệ thống tuyển chọn này cho thấy
yếu tố chính trị trong đó nhiều hơn là dựa trên tài cán thật sự. Sự lệ thuộc là
hoàn toàn vào tâm ý của các cấp lãnh đạo trong tòa, những mối quan hệ cá nhân,
sự quan hệ giữa các thẩm phán, thư ký và các lãnh đạo của họ. Theo cựu thẩm
phán Michael Kirby của Tòa Án Tối Cao Úc Châu, một khi nguyên tắc trách nhiệm
(accountability) đã không được coi nặng ngay từ thời điểm tuyển chọn thẩm phán,
thì tất cả những chức năng của tòa án chỉ là sự bao trùm của những lý thuyết
không thôi. Những vị thẩm phán lúc bấy giờ sẽ chỉ tự nhìn thấy mình chẳng làm
gì hơn là ngoài việc đi ‘dò’ luật và công bố nó ra!
6. Trách
Nhiệm Tư Pháp
Tư pháp càng được nhiều quyền
hành thì trách nhiệm lại càng cao. Những năm gần đây, có rất nhiều phán quyết
lầm lẫn đã bỏ tù không biết bao nhiêu kẻ vô tội hoặc trừng phạt phạm nhân nặng
nề hơn so với tội trạng thật sự.
Theo điều 37 của Tổ Chức Tòa Án
Nhân Dân 2002 và điều 8 Pháp Lệnh Thẩm Phán và Hội Thẩm Tòa Án Nhân Dân 2002
thì ngày nay, nếu như một thẩm phán hoặc viên hội thẩm gây thiệt hại cho một cá
nhân hoặc một tổ chức nào trong quá trình xét xử, thì tòa án nơi vị thẩm phán
hoặc viên hội thẩm đó làm việc sẽ phải chịu bồi thường tiền bạc và vị thẩm phán
hoặc viên hội thẩm đó sẽ phải hoàn trả lại số tiền cho tòa theo luật quy định.
Thêm vào đó, thẩm phán cũng phải bị trừng phạt theo kỷ luật hoặc bị tội hình
sự, tùy theo mức độ sai lầm nghiêm trọng của phán quyết đưa ra.
Theo cái nhìn về trách nhiệm tư
pháp thì đây là một hiện tượng tốt của một sự phát triển có hứa hẹn. Tuy nhiên,
trách nhiệm này phải được hiểu chung với tính độc lập của tư pháp. Khi thẩm
phán chịu nhiều áp lực thì tính độc lập của họ sẽ bị hao mòn. Ví dụ, một thẩm phán
sẽ dễ đưa ra một vụ án quan trọng hoặc khá rối rắm cho ủy ban lãnh đạo của tòa
đề thăm dò ‘ý kiến’ hoặc ‘chỉ dẫn’, hoặc thậm chí để lấy ‘quyết định’ hầu tránh
né khả năng bị tội sau này. Một tình trạng khác có thể xảy ra nữa đó là các tòa
phúc thẩm sẽ do dự khi thay đổi phán quyết của tòa án cấp dưới vì để khỏi chịu
trách nhiệm bồi thường.
Giới báo chí Việt Nam chẳng mấy khi dám đả động đến hoạt động của tòa án vì
tính chất khép kín của tòa án ít khi viết về những phán quyết quan trọng nhất
của tòa án xử từ góc độ pháp lý. Tại Úc, để tránh sự độc đoán của nghành tòa
án, thẩm phán có nghĩa vụ phải ghi chép những lý do xét xử và xuất bản ra cho
công chúng. Như thế, các vụ án xét xử sẽ được đồng nghiệp, báo chí, học giả, và
quần chúng nghiên cứu và bình phẩm. Ðây là một yếu tố khiến các vị thẩm phán
của Úc rất có trách nhiệm và thận trọng trong khi xét xử và đòi hỏi họ phải dựa
trên đúng nền tảng cơ sở pháp lý để đưa ra một bản án.
Kết Luận
Vào năm 2002 và từ năm 2010 cho
tới nay, Tòa Án Liên Bang (Federal Court of Australia) đã mời phái đoàn thẩm
phán thâm niên Việt Nam đến Úc để trao đổi về hoạt động của nghành tòa án tại
Úc. Mặc dù có khá nhiều khía cạnh về nghành tư pháp của Úc mà Việt Nam không
thể áp dụng được. Ðiển hình rõ nhất là Việt Nam không có một hệ thống liên bang
để chia rõ thẩm quyền thuộc cấp liên bang và tiểu bang cũng như sự liên đới của
hai tầng cấp này. Tuy nhiên, về mặt xét xử liêm khiết, ngay thẳng và sự hiểu
biết rộng của thẩm phán Úc là một gương mẫu xuất sắc cho bất cứ nghành tư pháp
nào trên thế giới noi theo.
Tuy những năm gần đây Việt Nam
có cố gắng cải cách bộ tư pháp, nhưng theo Tiến Sĩ John Reitz của đại học Iowa
thì ‘bộ tư pháp Việt Nam cần phải độc lập nhiều hơn khỏi sự cai trị của Ðảng
Cộng Sản và chính phủ Việt Nam. Việt Nam nhận thức được các vấn đề liên quan
đến tham nhũng trong hệ thống hành chánh của mình và đang cố gắng tìm sự hỗ trợ
trong việc tổ chức lại bộ tư pháp. Việt Nam đang muốn mở rộng cánh cửa kinh tế
cho việc đầu tư quốc tế thì họ phải hiểu rằng, để khuyến khích việc đầu tư từ
nước ngoài nhiều hơn, thì hệ thống pháp luật của họ cần phải sửa đổi’.
Ông cũng nhấn mạnh thêm:
‘administrative law review’ tức sự tái duyệt xét luật hành chánh là một phần
của hệ thống tư pháp để xem các đại diện của chính phủ có làm việc đúng luật
hay không, hoặc đã vi phạm nguyên tắc công lý. Sự tái duyệt xét về tư pháp
trong hoạt động hành chánh còn cho người dân quyền tố cáo hành động vi phạm
quyền hạn pháp lý của chính quyền nhà nước. Vì vậy, yếu tố chính của sự tái
duyệt xét luật hành chánh là để xem chính phủ có dựa trên cơ sở pháp lý chính
đáng để làm những gì mình đã làm không. Tiếc rằng, sự tái duyệt xét về luật
hành chánh của nghành tòa án Việt Nam đã bị một đảng chính trị duy nhất làm hư
hỏng bằng cách tiếp tục gây ảnh hưởng trên những bậc thẩm phán. Ví dụ cho thấy,
một thói quen rất thông thường của các thẩm phán, công tố viện và cán bộ nhà
nước là gặp gỡ nhau để bàn bạc về kết quả của những vụ án đang xét xử.
Thẩm phán Việt Nam cần phải có
tính độc lập thật sự khỏi nhà nước và đảng, và trừ khi những cam đoan về nền
độc lập của tư pháp đó được hoàn thành, bằng không thì tất cả những cải tổ gì
đi chăng nữa cũng sẽ chẳng có giá trị là bao nhiêu.
Teresa Trần Kiều Ngọc
(Australia)
Comments
Post a Comment