Nhận định: CÔNG GIÁO CÓ TIẾP TAY, CỘNG TÁC CẤU KẾT VỚI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VÀ ĐÔ HỘ VIỆT NAM KHÔNG? Thiện Ý.
Nhận định:
CÔNG GIÁO CÓ TIẾP TAY, CỘNG TÁC CẤU KẾT VỚI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VÀ ĐÔ HỘ VIỆT NAM KHÔNG?
Thiện Ý.
Sở dĩ câu hỏi làm chủ đề trên được đặt ra là vì bao lâu nay, sau khi cướp được chính quyền để thực hiện chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản) tại Việt Nam, đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã luôn tuyên truyền kết tội rằng Công giáo đã tiếp tay dẫn đường cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (nói như thể là nếu không có Công giáo thì Việt Nam đã không bị Pháp xâm lược).Rồi sau đó kết tội Công giáo cộng tác, cấu kết với nhà cầm quyền thực dân pháp trong gần 100 năm đô hộ nước ta (nói như thể chỉ có Công giáo vốn là thiểu số, đã hợp tác, cấu kết với Pháp, còn đa số người Việt Nam thuộc các tôn giáo khác thì không?- Vì cho đến nay sau khoảng 600 năm đạo Công giáo du nhập Việt Nam,người Việt Nam Công giáo mới chiếm khoảng 7% - 8% dân số trên dươi 100 triêu người) .Để rồi từ đó, sau khi nắm quyền, đảng CSVN đã có cách nhìn không đúng và cách đối xử bất công với Công giáo Việt Nam.
Đây là cách nhìn(về nhận thức) không đúng về Công giáo Việt Nam bao lâu nay của đảng CSVN phản ánh qua trích đoạn trong bài viết mới đây nhất trên mạng của truyền thông nhà nước XHCN Việt Nam, viết về lịch sử “mối quan hệ giữa Tòa Thánh Vatican và Việt Nam” . Xin trích:
“Năm 1774, giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) trợ giúp Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh cũng từng cử người này đi cầu viện Pháp và ủy quyền ký Hiệp ước Véc-xây giữa Pháp và nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau đó, năm 1858, Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam và lợi dụng Công giáo phục vụ cho việc thống trị của mình. Song song với việc trên, Công giáo cũng câu kết với Pháp để phát triển truyền giáo. Nhận thấy những tác hại khi do tự do truyền đạo Công giáo, nhà Nguyễn ban hành các chỉ dụ cấm đạo. Sau nhiều chỉ dụ cấm truyền đạo, năm 1869 vua Tự Đức ra chỉ dụ bãi bỏ việc cấm đạo Công giáo….”. (1)
Còn cách đối xử (qua thực hiện chủ trương, chính sách) bất công thế nào đối với Công giáo sau khi đảng CSVN cướp được chính quyền nửa nước Miền Bắc (1954-1975) và cộng sản hóa cả nước sau 30-4-1975, không cần viết ra thì thực tế ai cũng đã biết.
Vậy sự thật thế nào, vì sao đảng CSVN lại có luận điệu tuyên truyền võ đoán, truy chụp cho Công giáo Việt Nam như là thành phần phản quốc, gây mất đoàn kết dân tộc như vậy. Bài viết này nhằm trả lời cho những băn khoăn thắc mắc bấy lâu nay của nhiều người như vừa nêu.
Chúng tôi xin lần lượt trình bầy qua hai phần:
I/-CÔNG GIÁO VIỆT NAM CÓ TIẾP TAY, CỘNG TÁC VÀ CẤU KẾT VỚI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VÀ ĐÔ HỘ VIỆT NAM KHÔNG?
Chúng tôi lần lượt trả lời và chứng minh sự thật theo ý nghĩa từ ngữ đồi chiều với sự thật lịch sử.
1.Theo ý nghĩa từ ngữ:Công giáo Việt Nam có tiếp tay, cộng tác hay hợp tác, cấu kết với thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam hay không?
Câu trả lời tổng quát có tính khẳng định là không. Vì về mặt ý nghĩa từ ngữ của các động từ : Tiếp tay, cộng tác hay hợp tác và cấu kết không phù hợp với sự thật lịch sử.
(1) Về ý nghĩa từ ngữ “Tiếp tay” theo từ điển Việt Nam thì động từ “Tiếp tay” trong tiếng Việt, mang ý nghĩa là hành động hổ trợ, đồng lõa đồng tình hoặc giúp đỡ cho những việc làm sai trái. Qua đó, “tiếp tay” không chỉ phản ánh hành động mà còn thể hiện bản chất đạo đức của người tham gia vào hành vi đó.
Như vậy Công giáo không thể “tiếp tay" cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, hiểu theo ý nghĩa từ ngữ. Vì đó là việc làm sai trái, vi phạm mục đích cao thượng của đạo Công giáo: truyền bá niềm tin vào Thiên Chúa, truyền bá Đức công bằng, vị tha, bác ái hướng thượng con người đến chân-Thiện-Mỹ trong cuộc sống trần thế, để đạt hạnh phúc viên mãn vĩnh cửu nơi Nước Trời sau khi chết…Khác với mục đích sai trái, bất công của thực dân Pháp khi cất quân xâm lược Việt Nam.Ý nghĩa từ ngữ này phù hợp với sự thật lịch sử là đạo Công giáo đã bắt đầu du nhập Việt Nam qua các nhà truyền giáo một thời gian khá lâu, từ thời hậu Lê (1428-1423); trước khi thực dân Pháp cất quân xâm lược Việt nam (1858)…
(2)- Ý nghĩa“Cộng tác hay hợp tác” là sự kết hợp và làm việc chung giữa các cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt được một mục tiêu chung.….
Như vậy Công giáo Việt Nam cũng không thể cộng tác hay hợp tác với Pháp. Vì lịch sử cũng như thực tế Công giáo và thực dân Pháp không có chung mục tiêu theo ý nghĩa từ ngữ. Về mặt thực tế, các giáo sĩ Công giáo người ngoại quốc cũng như giáo dân Việt Nam Công giáo có mục đích truyền đạo, hành đạo cho mục tiêu đời sau. Trong khi thực dân Pháp có mục tiêu khác hơn là xâm lược để thiết lập chế độ khai thác thuộc địa bất công,với mục đích vụ lợi khác hơn là làm giầu cho chính quốc.Vậy giữa Công giáo và thực dân Pháp không có sự cộng tác hay hợp tác mà chỉ có mối quan hệ song phương trên cơ sở đôi bên cùng có lợi ích khác nhau(Công giáo lợi ích phần hồn, Thực dân Pháp lợi ích phần xác).
(3)-Ý nghĩa động từ “Cấu kết” là “ hợp lại với nhau thành phe cánh để cùng thực hiện một âm mưu chung xấu xa”.
Như vậy Công giáo lại cũng không thể “cấu kết” để cùng thực hiện âm mưu chung xấu xa xâm lược và khai thác thuộc dịa của thực dân Pháp;theo ý nghĩa từ ngữ phù hợp với sự thật lịch sử.Có chăng, đó cũng chỉ là quan hệ song phương giữa các nhà truyền giáo và giáo dân Công giáo Việt Nam với thực dân Pháp, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi ích khác nhau.
Tất cả những ý nghĩa trên về mặt từ ngữ của các động từ: Tiếp tay, Cộng tác hay Hợp tác và cấu kết, đều thể hiện sự thật lịch sử; rằng Công giáo không tiếp tay, không cộng tác hay hợp tác và không cấu kết với thực dân Pháp xâm lược (1858) và đô hộ Việt nam gần 100 năm (1884-1954).Sự thật lịch sử đã chỉ cho thấy có mối quan hệ song phương giữa Công giáo và thực dân pháp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi ích khác nhau; trước cũng như sau khi xâm chiếm và thiết lập chế độ bảo hộ hay thuộc địa tại Việt Nam.(Tương tự như mối quan hệ giữa Tòa Thánh Công giáo hoàn vũ Vatican và nhà nước Việt Nam XHCN mà bao lâu nay đã và đang nỗ lực thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện và bền vững (không phải là cộng tác hay cấu kết, cũng chỉ là quan hệ song phương trên cơ sở đôi bên cùng thành đạt lợi ích khác nhau )
Vậy sự thật qua thực tế và lịch sử có đúng vậy không?
2/- Đối chiếu với sự thật lịch sử Công giáo Việt Nam cũng không tiếp tay cho, không cộng tác hay hợp tác và cũng không cấu kết với thực dân Pháp, trước cũng như sau khi xâm lược Việt Nam.
A. Thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (Trước 1858)
Thật vậy, về mặt lịch sử đạo Công giáo du nhập Việt Nam một thời gian khá lâu, trước khi thực dân Pháp bắt đầu cất quân xâm lược Việt Nam (1858).
Theo chính sử Việt Nam, Đạo Công giáo bắt đầu truyền vào nước ta đời hậu Lê (1428-1423) giữa lúc nền thống nhất của Việt Nam tan rã do sự tranh giành quyền lợi giữa các ông chúa phong kiến Mạc-Trịnh-Nguyễn.Sự du nhập này do các nhà truyền giáo Phương Tây đầu tiên thuộc dòng Phanxico và dòng Tên. Theo đối chiếu lịch sử, người ta được hiểu rằng, hai vị giáo sĩ truyền đạo lúc ấy chính là linh mục Alexandre de Rhodes và Pedro Marquez. Trong thuở sơ khai các giáo sĩ nhờ vào các thương gia mới có tầu bè vào Đông Nam Á. Đến Thế kỷ XVII việc truyền giáo đã được tổ chức đầy đủ và phát triển mạnh dần.
Như vậy những người Công giáo đầu tiên đến nước ta là người ngoại quốc. Những người Việt Nam Công giáo đầu tiên và sau này được rửa tội gia nhập đạo Công giáo là người Việt Nam Công giáo. Vậy quan hệ của họ với Triều đình chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam thế nào?
Theo sử gia Phạm Văn Sơn thì “Buổi đầu trong thời Nam-Bắc Triều, sau là thời Nam-Bắc phân tranh, vua chúa Nam, Bắc hà tỏ ra có nhiều cảm tình với các giáo sĩ. Thực ra không phải vì hâm mộ một đạo giáo. Mặc dầu đạo giáo này có chủ trương Bác ái, Nhân hòa. Nhưng là vì các vua chúa muốn lợi dụng các giáo sĩ để liên lạc với các nước Tây Phương, hòng có những kỹ thuật gia giỏi về quân sự, tài đóng tầu chiến,đúc súng đồng, đạn dược và mua được nhiều khí giới hạ thủ đối phương…”(2)
Kế tiếp qua các triều đại nhà Nguyễn độc lập tự chủ trước khi thực dân pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam (1802 -1858) mối giao hảo vớ các giáo sĩ truyền giáo và người Việt Nam Công giáo dưới thời Thế tổ Gia Long (1802-1820) vẫn hài hòa. Các giáo sĩ vẫn được tự do truyền giáo và còn được triều đình nhờ phiên dịch các văn kiện ngoại giao với ngoại quốc; nhất là kể từ sau khi giáo sĩ Đắc Lộ (Alexan De Rhodes) do nhu cầu ngôn ngữ truyền đạo, đã sáng chế ra chử viết tiếng Việt theo mẫu tự Latin (đã hoàn chỉnh từng bước để trờ thanh quốc ngữ Việt Nam ngày nay). Nhờ mối giao hảo tốt đẹp này, công việc truyền giáo của các giáo sĩ cũng được dễ dáng và số tín hữu người Việt Nam Công giáo cũng gia tăng số lượng theo thời gian…
Tất cả là nhờ mối hữu hảo tốt đẹp giữa các nhà truyền giáo ngoại quốc trong đó có giáo sĩ người Tây Ban Nha, Bồ đào nha và Pháp với Triều đình Việt Nam thời Gia Long. Mối giao hảo tốt đẹp này bắt nguồn từ việc Vua Gia Long (Nguyễn Ánh) khởi nghiệp bằng việc vào năm 1774 gửi Thái tử Cảnh cho Giám mục Công giáo người Pháp là Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) qua Pháp cầu viện với Pháp hoàng là vua Louis XVI , ký Hiệp ước Véc-Xây với Pháp. Nhờ đó Nguyễn Ánh đã có thế lực đánh bại nhà Tây Sơn với vua Quang Trung (1778-1802) lên ngôi vua hiệu Gia Long mở đầu cho các triều đại nhà Nguyễn, cũng là những triều đại quân chủ chuyên chế cuối cùng tại Việt Nam (1802-1954).
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Pháp. Nhờ đó quan hệ giữa các giáo sĩ truyền giáo và người Việt Nam Công giáo không bị ngăn trở gì, tiếp tục phát triển thêm nhiều người Việt Nam theo đạo Cộng giáo.
Nhưng bước qua các triều đại các vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1847-1883), quan hệ giữa các nhà truyền giáo và người Việt Nam Công giáo với triều đình Việt Nam ngày càng xấu đi.
Vì vua Minh mạng vốn đã không ưa người ngoại quốc , coi người châu Âu là bọn man di, là quân xâm lược.Lại không thích cả tôn giáo của Âu châu như Công giáo, một thứ tôn giáo cách mạng,nên vua Minh Mạng đã quyết liệt thực hiện việc cấm đạo, giết tín đồ khốc liệt đến độ nhiều giáo sĩ đã đặt cho vua Minh Mạng biệt danh “Neron Việt Nam” (như hoàng đế Neron bách hại tàn khốc giáo dân Công giáo La mã vào Thế kỷ thứ III).Cuộc bách hại Công giáo tàn khốc kéo dài từ triều đại vua Thiệu Trị đến Tự Đức. Sau khi lên ngôi vua Tự Đức đã ban hành nhiều Dụ cấm đạo, hà khắc và triệt để nhất là hai Dụ cấm đạo sau cùng:
-Một là Dụ cấm dạo ngày 21-3-1851. “Xử tử hình tất cả các giáo sĩ Châu Au và Việt Nam trên khắp lãnh thổ nước nhà và các giáo dân khi ấy bị coi là đồng lõa với quân phản nghịch. Augustin Schofler là một giáo sĩ mới 29 tuổi đã bị chém đầu tại Sơn Tây ngày 1-3-1851; năm sau có Jean Louis Bonnard cũng bị trảm quyết ở ngoài Bắc và rất nhiều giáo dân nữa…” (3)
- Hai là vào Năm 1855 một Đạo dụ cấm đạo khác được vua Tự Đức ban hành,cay nghiệt hơn là “Trọng thưởng những ai bắt được các giáo sĩ và tố cáo được các giáo dân…”(4)..
Do đó, Pháp nắm được cơ hội có cớ để ít năm sau (1858) dùng võ lực xâm chiếm nước ta.Sau đó từng bước xâm chiếm đất nước Việt Nam, rồi thiết lập được chế độ đô hộ, thuộc địa Việt Nam sau khi ép buộc Triều đình nhà Nguyễn Việt Nam ký các hòa ước bất bình đẳng mà Hòa ước sau cùng Patenote 1884 khởi đầu từng bước xâm chiếm lãnh thổ, thiết lập chế độ bảo hộ, thuộc địa tại Việt Nam.
Vậy thì, theo nhận định của chúng tôi:
(1)-Như vậy là mối quan hệ giữa các giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Công giáo Việt Nam với nhà nước quân chủ chuyên chế Việt Nam đã trải qua một thời kỳ lâu dài tốt đẹp.
Nghĩa là có sự quan hệ ngoại giao song phương trên cơ sở hai bên cùng có lợi ích riêng (khác hợp tác): Các giáo sĩ được tự do truyền đạo, các giáo dân Công giáo được tự do theo và giữ đạo.Trong khi Triều đình Việt Nam ít nhiều được tiếp thu học hỏi những tiến bộ khoa học kỹ thuật Phương Tây và các giáo sĩ giúp triều đình Việt Nam vế mặt ngôn ngữ ngoại giao bước đầu.
(2)-Nhưng sau đó quan hệ song phương bắt đầu xấu đi, trở nên tồi tệ, là vì bốn nguyên nhân:
-Một là,khi các vua chúa Việt Nam thấy rằng đã không lợi dụng được mối giao hảo như ý muốn là “muốn lợi dụng các giáo sĩ để liên lạc với các nước Tây Phương, hòng có những kỹ thuật gia giỏi về quân sự, tài đóng tầu chiến,đúc súng đồng, đạn dược và mua được nhiều khí giới hạ thủ đối phương…” (5)
- Hai là lại thấy người Tây phương xâm chiếm nhiều nước ở Châu Á và e ngại các giáo sĩ Công giáo vì lợi ích truyền đạo sẽ cấu kết với ngoại bang xâm chiếm Việt Nam.
- Ba là đạo Công giáo bị coi là “tà đạo”, nghịch với thuần phong mỹ tục bản địa. Triều đình coi những người theo đạo là đi ngược luân thường, bỏ rơi tổ tiên, khinh mạn vua quan.Tóm lại Công giáo bị coi là có thể làm đảo lộn trật tự gia đình, xã hội vốn đang ổn cố bao lâu nay trên nền tảng ý thức hệ tam giáo Phật - Lão-Khổng.
- Bốn là về phía Công giáo, vì bị ngăn cản, bách hại các giáo sĩ ngoại quốc, giáo sĩ và giáo dân Việt Nam Công giáo; để được bảo vệ mạng sống và đức tin, thuận lợi trong việc truyền giáo và giữ đạo, có thể cách này cách khác họ đã cung cấp tin tức tình báo giúp Pháp thêm thuận lợi thực hiện ý đồ cất quân xâm lược Việt Nam.Đây cũng là lẽ thường do hoàn cảnh lịch sử và lợi ích truyền đạo và sống đạo, bảo vệ đức tin bị bách hại mà thực tế mới có quan hệ chẳng đặng đừng này đối với Công giáo. Vì trước đó,trong thời kỳ quan hệ tốt đẹp, các giáo sĩ ngoại quốc cũng như người Việt Nam Công giáo đầu tiên cũng đã có mối quan hệ song phương tốt đời đẹp đạo,với những đóng góp hữu ích nhất định cho các triều đình nhà Nguyễn Việt Nam, trên cơ sở đôi bên cũng có lợi ích khác nhau.
Trong lịch sử Việt Nam có ghi nhận một trong những người Việt Nam Công giáo đầu tiên hiếm hoi điển hình là Nguyễn Trường Tộ (1830-1841) là một danh sĩ Công giáo gốc Nghệ An, thông thạo tiếng Hán và ngoại ngữ nhờ các nhà truyền giáo truyền thụ. Ông là một trong những người Việt Nam Công giáo đầu tiên đã hết lòng vì nước, đã dồn hết tâm trí vào việc nghiên cứu, thảo kê hoạch giúp nước. Nhờ sự hiểu biết sâu rộng về các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật thời đại nên đến đầu tháng 5 năm 1863 thì nhà trí thức Công giáo yêu nước Nguyễn Trường Tộ đã thảo xong ba bản điều trần canh tân nước nhà gửi lên Triều đình Huế là "Tế cấp luận", "Giáo môn luận" và "Thiên hạ phân hợp đại thế luận".
Tiếc rằng các bản điều trần này đã bị đa số quan chức triều đình bảo thủ, kềm hãm, bác bỏ vì không tin vào tiến bộ khoa học kỹ thuật Tây Phương.Một số quan chức triều đình thủ cựu, thiếu hiểu biến đến độ không tin vào bóng đèn điện ngược đầu mà sao lại sáng được (!?!)…
Hệ quả là các vua chúa Việt Nam sinh ra e sợ nên đã quyết liệt thi hành chính sách cấm đạo Công giáo và bế môn tỏa cảng.Pháp đã viện cớ cất quân xâm lược Việt Nam (1858).thực hiện ý đồ vốn có từ lâu, không do Công giáo.
(3). Đến đây có thể tạm kết luận rằng:trong thời kỳ trước khi thực dân Pháp cất quân xâm lược Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử,quyền tự vệ chính đáng, vì lợi ích truyền giáo của các giáo sĩ Công giáo ngoại quốc và muốn bảo vệ đức tin Công giáo của các giáo dân Việt Nam thời sơ khai trước sự bách hại tàn khốc của Triều đình Nhà Nguyễn quân chủ chuyên chế Việt Nam; thực tế quả thực đã có một số nhà truyền giáo và giáo dân Công giáo Việt Nam (không phải là tất cả) cách này hay cách khác đã cung cấp tin tức tình báo giúp thêm thuận lợi cho thực dân Pháp thực hiện ý đồ xâm lược Việt Nam vốn có ý định từ trước. Đây là sự trao đổi bất đắc dĩ trên cơ sở quan hệ song phương hai bền cùng có lợi cho mục tiêu tối hậu khác nhau của mình: Công giáo đạt lợi ích truyền đạo thuận lợi và có thế dựa bảo vệ đức tin khi bị triều đình bách hại- Thực dân Pháp dựa vào Công giáo đồng đạo về mặt đức tin để thành đạt lợi ích xâm chiếm thuộc địa cho nhu cầu phát triển chính quốc.Như vậy các giáo sĩ ngoại quốc cũng như người Việt Nam Công giáo chỉ có quan hệ song phương, vì lợi ích đức tin, mà không có sự hợp tác, cấu kết tiếp tay cho ý đồ xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Vì điều này trái với lẽ công bằng và tình bác ái của đức tin Công giáo. Vì thế, tong lịch sử vẫn có những đóng góp ít nhiều lợi ích tích cực cho triều đình việt nam của các giáo sĩ về mặt ngôn ngữ, tiến bộ khoa học. và của người Việt Nam Công giáo điên hình như Nguyễn Trường Tộ.
B.Thời kỳ sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858 - 1954) thì sao?
Sau khi chiến hạm Pháp bắn phá vào cửa biển Đà Nẳng vào năm 1858 mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam, rồi từng bước xâm chiếm lãnh thổ đặt ách thống trị toàn cõi Việt Nam.
Trước tương quan lực lượng quân sự không cân sức, thực dân Pháp với vũ khí tối tấn, triều đình Việt Nam với vũ khí thô sơ, sau một thời gian kháng cự đã phải ký kết những Hòa ước với quân cướp nước, từng bước chấp nhận chế độ bảo hộ, thuộc địa của Pháp. Từ Hòa ước năm 1862 đến Hòa ước Patenotre (1884) khởi đầu và từng bước xác lập quyền thống trị Việt Nam của thực dân pháp.
Thế nhưng đối với người dân yêu nước Việt Nam, ngay từ đầu đã phát động kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Vì vậy cân xem người Việt Nam Công giáo có yêu nước hay không,cần xét qua hai mối quan hệ:
1/- Quan hệ giữa giữa Công giáo Việt Nam với các triều đình nhà nguyễn và và cuộc kháng chiến chiến trường kỳ chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1858-1954).
Dưới các triều đại quân chủ chuyên chế Việt Nam các đời nhà Nguyễn đã bị thực dân Pháp khống chế,từng bước xâm chiếm lãnh thổ, thiết lập guồng máy bảo hộ khai thác thuộc địa. Thế nhưng đối với nhân dân Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, mọi tầng lớp nhân dân đã bước vào một cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân xâm lược Pháp.
Khởi đi từ những cuộc kháng chiến của người dân Nam bộ dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân…; đến các cuộc kháng chiến dưới ngọn cờ Cần Vương (1884), văn Thân (1885). Sau đó kế tục là các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo cùa các thế hệ sĩ phu yêu nước mang ý thức hệ quân chủ Phương Đông, tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật (chống ngoại xâm bảo vệ ngai vàng cho Vua cho trọn đạo quân thần, trung quân ái quốc). Tiếp đến là các cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc mang ý thức hệ nửa quân chủ Phương Đông nửa dân chủ Phương Tây (giành độc lập để thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, vừa bảo vệ ngai vàng cho vua, vừa bảo vệ các quyền dân chủ) Tiêu biêu như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh (1905..). Kế đến là sự lãnh đạo của các nhà ái quốc mang ý thức hệ dân tộc dân chủ Phương Tây (đánh duổi thực dân Pháp, thiết lập chế độ dân chủ pháp trị kiểu Tây phương), tiêu biểu như anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học với Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương tam dân chủ nghĩa (Dân tộc, dân quyền, Dân sinh) (1927) và sau đó có thêm một số chính đảng có chung ý thức hệ quốc gia dân tộc dân chủ như Đại Việt, Duy Dân...Sau cùng từ trước và sau khi đảng CSVN được chính thức thành lập vào năm 1930, có thêm sự tham gia kháng chiến của các nhà ái quốc theo ý thức hệ cộng sản (đánh đuổi thực dân Pháp, xây dựng chế độ độc tài đảng trị, toàn trị hay chuyên chính vô sản xã hội chủ nghĩa) dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh và đảng CSVN.
Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ này của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, trừ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương, Văn Thân, người Việt Nam Công giáo không có cơ hội tham gia kháng chiến vì bị kỳ thị, nghi ngờ, bị coi là thành phần “Cộng tác, cấu kết” với quân xâm lược Pháp nên đã bị bách hại tàn khốc. Sử liệu ghi nhận rằng sau khi đưa vua Hàm Nghi trốn khỏi kinh thành “Tôn Thất Thuyết ở Quảng Bình làm hịch Cần Vương truyền đi các nơi, bởi vậy chỉ trừ những chỗ chung quanh Kinh thành ra, còn từ Bình Thuận trở ra cho đến Nghệ An, Thanh hóa, chỗ nào sĩ dân cũng nổi lên, đổ cho dân bên đạo gây thành mối loạn, rồi đến đốt phá những làng có đạo. Sách Tây chép rằng từ đầu tháng 6 cho đến cuối tháng 8 (1884),dân bên đạo phải 8 ông cố đạo và hơn 2 vạn người (Công giáo) bị giết…”(6), Thực tế lịch sử này đã đẩy người Công giáo vào thế phải tự vệ, phải sống trong các vùng Pháp chiếm để được sự bảo vệ của Pháp.
Nhưng càng về sau, càng có nhiều người Công giáo Việt Nam yêu nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc; dù chỉ là thiểu số bên cạnh đa số các tín đồ tôn giáo, tin ngưỡng khác. Người Việt Nam Công giáo không chỉ tham gia kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc Việt Nam cũng như các chính đảng theo ý thức hệ quốc gia dân tộc dân chủ hữu thần đã đành; mà còn tham gia kháng chiến trong giai đoạn kháng chiến cuối cùng (1946-1954)dưới sự chủ đạo của đảng CSVN theo ý thức hệ cộng sản vô thần.
Thật vậy, trong cuộc kháng chiến 9 năm cuối cùng chống thực dân Pháp (1946-1954) dưới sự chủ đạo của đảng CSVN núp dưới mặt nạ Mặt Trận Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội thành lập sau khi tuyên bố giải tán đảng CSVN) đã có rất nhiều giáo dân và linh mục tu sĩ Công giáo tham gia kháng chiến tích cực. Trong số này có cha tôi (Nguyễn Văn Tiến) một thầy tu xuất khi gặp mẹ tôi nơi xứ đạo ông là thầy giáo giúp xứ. Cha tôi cũng như nhiều người Công giáo khác có thể biết hay không biết đảng CSVN lãnh đạo kháng chiến đánh đổ thực dân Pháp cướp chính quyền để thực hiện chủ nghĩa xã hội vô thần (giai đoạn đầu chủ nghĩa Cộng sản) .Vì mục đích tối hậu này đã được đảng CSVN ngụy trang (tuyên bố giải tán đảng CSVN,)thành lập tổ chức Việt Minh, che đậy bộ mặt CS dưới ngọn cờ ngụy dân tộc “Chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc”.Đồng thời, trong kháng chiến đảng CSVN đã tạm thời giữ kín cách nhìn với tôn giáo về nhận thức kinh điển của chủ nghĩa cộng sản. coi tôn giáo là mâu thuẫn đối kháng (một mất, một còn với chủ nghĩa CS) và đã có cách đối xử hòa dịu khác hơn bằng đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi Công giáo cũng là những người yêu nước (Hội những người Công giáo kính Chúa yêu nước…).Vì thế, đã không chỉ có giáo dân, mà có cả một số Giám mục, linh mục tu sĩ Công giáo tham gia kháng chiến chống Pháp. Tiêu biểu như “có một số giám mục tiên khởi là người Việt, trong đó có bốn vị còn sống khi Việt Nam giành độc lập, đã viết một bức điện thư gửi đến Tòa Thánh, bày tỏ lòng yêu nước, kêu gọi sự ủng hộ chính quyền mới thành lập của nước Việt Nam Người có sáng kiến này là Giám mục Tiên khởi Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mời Giám mục Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn làm cố vấn chính phủ từ năm 1945 và Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ từ năm 1946.…..” (7).
Như vậy là trong kháng chiến chống Pháp (cũng như trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng sau này (1954-1975), khi chưa cướp được chính quyền, đảng CSVN đã có cái nhìn tất cả các giới Công giáo đã tham gia kháng chiến đều xuất phát từ lòng yêu nước,có chung tinh thần chống ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc ( chứ không giành thuộc địa kiểu mới cho chủ nghĩa thực dân mới của các tân đế quốc cộng sản Nga-Tầu). Đó là những sự thật lịch sử.
2/- Quan hệ giữa người Việt Nam Công giáo với guồng máy cai trị bảo hộ, thuộc địa của thực dân Pháp thế nào?
Thực tế và lịch sử cho thấy rằng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng như sau khi thực dân pháp thiết lập guồng máy cai trị bảo hộ (Bắc và Trung kỳ), thuộc địa (Nam kỳ quốc) trên đất nước ta tồn tại gấn 100 năm (1884-1954). Nếu có những người Việt Nam Công giáo yêu nước ít nhiều tham gia kháng chiến, thì cũng có những người Việt Nam Công giáo dù yêu nước hay không yêu nước, do hoàn cảnh lịch sử,đã phải chọn cuộc sống trong vùng thực dân Pháp cai trị.Đây là sự chọn lựa bất đắc dĩ (tương tự người dân hai Miền Bắc-Nam sau Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, khi phải sống bên này hay bên kia vỹ tuyến 17, do hoàn cảnh sống không thể lựa chọn) không chỉ riêng các giới Công giáo Việt Nam (giáo dân, giáo hội Công giáo Việt Nam)vốn chỉ là thiểu số; mà cũng là lựa chọn chẳng đặng đừng của những người Việt Nam thuộc các tôn giáo khác chiếm tuyệt đại đa số. Vì “thời thế, thế thì phải thế” ai cũng phải có sự chọn lựa cách tốt nhất cho cuộc sống của mình và gia đình tùy hoàn cảnh.Một khi sống trong các vùng thực dân pháp cai tri, người Công giáo cũng như giáo hội Công giáo Việt nam phải có những quan hệ song phương với nhà cầm quyền thực dân Pháp để tồn tại và phát triển trên cơ sở đôi bên cùng có lợi: Pháp lợi dụng Công giáo phục vụ cho việc thống trị của mình. Công giáo cũng lợi dụng (không phải cộng tác, cấu kết với) Pháp để phát triển truyền giáo….Do đó không thể chủ quan kết án như đảng CSVN đã làm với người Công giáo cũng như giáo hội Công giáo Việt Nam bấy lâu nay.
Thực ra, Pháp không chỉ lợi dụng người Việt Nam và giáo hội Công giáo Việt Nam, mà đã lợi dụng bất cứ người Việt Nam nào thuộc các tôn giáo khác chiếm số đông hơn nhiều đã làm việc trong guồng máy thống trị của thực dân Pháp hay dân thường sống trong vùng thực dân Pháp cai trị. Sự khác biệt có thể có là giáo dân và giáo hội Công giáo Việt Nam, dù là thiểu số song đã được thực dân Pháp tin dùng tín cẩn hơn, cho nhiều ưu quyền đặc lợi hơn người Việt Nam thuộc tín ngưỡng tôn giáo khác (Phật giáo, Lão giáo, khổng giáo, đạo thờ tổ tiên ông bà…).Sự thực lịch sử này xuất phát từ niềm tin công giáo chung (đồng đạo) giữa người Pháp cai trị và giáo dân, giáo hội Công giáo Việt Nam. Đồng thời Công giáo Việt Nam chỉ là thiểu số, từng bị bách hại trong dòng lịch sử, ở thế yếu trong xã hội cần có chỗ dựa để sống đạo và truyền đạo an toàn, thuận lợi, Vì thế có thể khẳng định mối quan hệ giữa Công giáo Việt Nam và thực dân Pháp chỉ là quan hệ song phương để mỗi bên lợi dụng lẫn nhau nhằm thành đạt các lợi ích khác nhau (khác hợp tác, cấu kết…)
Vậy tại sao đảng CSVN lại chỉ kết tội oan sai và đối xử bất công với Công giáo vốn chỉ là thiểu số ít ỏi so với các tôn gió lớn khác tại Việt Nam, rằng “Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam và lợi dụng Công giáo phục vụ cho việc thống trị của mình(đúng). Song song với việc trên, Công giáo cũng câu kết(sai) với Pháp để phát triển truyền giáo. …”(8).
II/- VÌ SAO ĐẢNG CSVN ĐÃ CÓ CÁI NHÌN CÔNG GIÁO VIỆT NAM KHÔNG ĐÚNG VỀ MẶT NHẬN THỨC VÀ ĐÃ CÓ CÁCH ĐỐI XỬ BẤT CÔNG VỀ MẶT THỰC TẾ?
Bất cứ ai, có chút hiểu biết về chủ nghĩa cộng sản đều có thể dễ dàng trả lời cho câu hỏi vừa nêu.Nhất nữa là người Việt Nam thuộc mọi tôn giáo, dù có hiểu biết hay không về chủ nghĩa cộng sản, mà từng có kinh nghiệm sống trong chế độ XHCN (giai đoạn đầu của chủ nghĩa CS) tại Việt Nam, thì hơn ai hết sẽ có câu trả lời dễ dàng, có tính thuyết phục cho câu hỏi trên. Rằng sở dĩ đàng CSVN có cách nhìn không đúng và cách đối xử bất công với Công giáo là vì:
1. Cách nhìn không đúng là về mặt nhận thức có tính kinh điển, đảng CSVN giáo điều coi tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng là một “mâu thuẫn đối kháng” với chủ nghĩa cộng sản.
Đảng CSVN dưới lăng kính chủ nghĩa cộng sản vô thần, coi tôn giáo như thuốc phiện mê hoặc con người, là lực lượng phản động hữu thần, tiêu biểu, hàng đầu là Công giáo. Bên cạnh các thành phần phản động khác mang ý thức hệ hữu thần trái với ý thức hệ CS vô thần. Tất cả có chung “mâu thuẫn đối khảng” (một mất, một còn) với chủ nghĩa cộng sản; như các chính đảng quốc gia và các tổ chức chính trị khác. Vì đó là những vật cản đảng CSVN trên con đường độc quyền xây dựng mô hình xã hội “Xã hội chủ nghĩa vô thần, độc tài toàn trị”.
Vì vậy sau khi cướp được chính quyển thực hiện mô hình XHCN, lúc thịnh thời, đảng CSVN đã dùng bạo lực tấn công, trấn áp tôn giáo bằng mọi cách,. Đối tượng tôn giáo hàng đầu là Công giáo, đảng CSVN, bằng các các biện pháp hà khắc để trấn áp, ngăn chặn sự phát triển, tiến đến tiêu diệt hoàn toàn mọi tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng (nếu có thể).
2. Cách đối xử bất công với Công giáo, là sau khi cướp được chính quyền đảng CSVN đã thực hiện các chủ trường chính sách về tôn giáo, bằng các biện pháp hà khắc đặc biệt với Công giáo hơn các tôn giáo khác tại Việt Nam.
- Vì đảng CSVN đánh giá Công giáo là đối tượng phản động chống cộng hàng đầu trong giới tôn giáo tại Việt Nam. Một thành phần chống cộng hàng đầu, triệt để trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng (1954-1975)
- Vì Công giáo có tổ chức hệ thống chặt chẽ, sinh hoạt kỷ luật và có ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế; với một giáo hội Công giáo hoàn vũ Vatican, lãnh đạo hàng tỷ giáo dân thông qua các giáo hội với giáo dân ở hầu hết các quốc gia trên thế giới (Giáo phận, giáo xứ, giáo họ, giáo dân…) với các đoàn thể Công giáo tiến hành quốc tế cũng như các giáo hội địa phương, theo giới tính, tuổi nào đòan thể nấy.
Thực tế, vì Công giáo với hệ tổ chức quy củ và sinh hoạt tôn giáo nối kết kỷ luật chặt chẽ như thế, nên sau khi cướp được chính quyền nửa nước Miền Bắc sau Hiệp định Geneve 1954 và cướp được chính quyền quốc gia VNCH ở Miền Nam, đưa cả nước tiến lên xã hội “xã hội chủ nghĩa”, đảng CSVN đã thực hiện ngay chủ trương chính sách hà khắc đối với tôn giáo, song Công giáo luôn bị coi là đối tượng phản động hàng đầu, hơn cả các chính đảng và các tổ chức chống cộng khác.
Thực tế đảng CSVN đã lãnh đạo nhà cầm quyền XHCN thực hiện chủ trương chính sách hà khắc với Công giáo thế nào, thì mọi người từng sống dưới chế độ XHCN đã biết. Điều cần nhắc lại ở đây là trong thời khoảng 10 năm đầu sau khi cộng sản hóa miền Nam (1975-1985); cũng là 10 năm kinh hoàng của giáo dân và giáo hội Công giáo Việt Nam.Trên mặt trận truyền thông, đảng CSVN công khai tuyên truyền Công giáo là tay sai ngoại bang, cấu kết với thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam; cho phổ biến những tài liệu sách báo có nội dung bôi bác đạo Công giáo về tín lý tín điều, về những sự kiện tiêu cực trong lịch sử phát triển giáo hội Công giáo toàn cầu cũng như Việt Nam.Điển hình nhu cho xuất bản và phỗ biến rộng rãi hai cuốn sách tực đề (1) Gia Tô Bí Lục và (2) Thập giá và Lưỡi gươm.Đặc biệt là xử dụng các ổ đặc tình truyền thông, (như nhóm Giao điểm) đánh phá, nhục mạ thậm từ người Công giáo và Giáo hội Công giáo triền miên trong nhiều thập niên qua;mà dường như mới tắt tiếng ít lâu nay,sau khi quan hệ ngoại giáo giữa Việt Nam XHCN và Tòa thanh Vatican tiết lập có tính bền vững. Đồng thời trong thời khoảng này (1975-1985), nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân Công giáo phải vào tù vì lý do tôn giáo được hình sự hóa; Nhiều cơ sở tôn giáo, y tế,giáo dục của Công giáo cách này cách khác bị ép buộc tự hiến xung công hay tịch thu như tang vật phạm pháp của các vụ án hình sự hóa do công an dàn dựng, ngụy trang dưới các vụ án phản động. Đây là thời kỳ đảng CSVN hăng men chiến thắng đã hạ quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong vòng 15 đến 20 năm (*). Đây cũng là thời kỳ người Việt Nam Công giáo liên tưởng đến khổ nạn “cấm đạo”dưới chế độ quân chủ chuyên chế của các vua nhà Nguyễn là Thiệu trị, Tự Đức. Liên tưởng để so sánh thấy được có sự giống nhau về mục tiêu (diệt đạo), khác về phương thức thực hiện (tinh vi và khôn khéo).Thực tế là,các vua chúa nhà Nguyễn và đảng CSVN đều có chung cùng đích tiêu diệt Công giáo. Nhưng phương cách có khác. Trong khi các Vua chúa thì công khai ban hành các đạo dụ cầm đạo gắt gao và thực hiện triệt để bằng sự ngăn cấm, bát bớ,tù đầy, tra tấn cực hình, ép buộc bỏ đạo. Nếu không được thì chém đầu hay phân thây xé xác. Trong khi đảng CSVN thì vẫn công nhận mạnh mẽ trong Hiên pháp, rằng “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giao hay vô thần” với các luật lệ “mật ngọt chết ruồi”, nói là để bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Thế nhưng trên thực tế đảng CSVN lại dùng chính những luật lệ đầy cạm bẫy làm căn cứ để kiểm soát, hạn chế,trấn áp bằng mọi biện pháp, thủ đoạn tinh vi,để tín đồ Công giáo phải “tự giác” bỏ đạo (nếu muốn tồn tại không mất quyền lợi nhà nước ban phát cho công dân) hay không bỏ đạo mà cũng không thể chết vì đạo để được giáo hội phong thánh như 117 vị thánh tử đạo Việt Nam trong thời kỳ các vua chúa nhà Nguyễn cấm đạo sát hại. Vì họ đã chấp nhận mọi cực hình và chọn cái chết bảo vệ đức tin.Thân phận người Việt Nam Công giáo lúc này có thế ngắn gọn trong nhận định của một bài phát biểu của Linh mục Chân Tín trong một hội nghị của giới Công giáo được phép tổ chức tại Thành phố HCM vào khoảng một năm sau ngày 30-4-1975; rằng “người Việt Nam Công giáo đã bị đối xử như những công dân hạng 2…”. Linh mục Chân tín từng phát động các cuộc xuống đường biểu tình “Chống chế độ lao tù” của chính quyền VNCH trong thời kỳ chiến tranh Quốc-Cộng. Sau 30-4-1975 có người hỏi linh mục Chân Tín sao không tổ chưc xuống đường “Chống chế đô lao tù của CS”. Sau một phút im lặng,Ông trả lời đại ý rằng “Dẫu sao chế độ VNCH nói họ còn biết nghe, chế độ hiện nay thì không những không nghe mà còn bỏ tù thì xuống đường cũng vô ích thôi …”.
Nhưng may mắn thay cho giới tôn giáo, trong đó có Công giáo, (cũng là cái may chung cho đất nước và nhân dân Việt Nam) tình cảnh khốn đốn này của Công giáo Viêt Nam (bao gồm giáo hội với các chức sắc và giáo dân Công giáo) đã từng bước được cải thiện, sau khi đảng CSVN đã thay đổi cách nhìn và cách đối xử như là “cởi trói” cho Công giáo.(khi định trói để diệt mà không diệt được vì thời thế đã đổi thay, không còn cơ hội)
Vì sao đảng CSVN đã thay đổi cách nhìn về nhận thức và cách đối xử về mặt thực tế dối với Công giáo nói riêng và các tôn giáo nói chung? Chúng tôi sẽ nhận định trong một bài viết khác.
Thiện Ý
Houston, ngày 30 Tháng 7 Năm 2025.
Ghi chú:Tài liệu tham khảo:
(1), (7) và (8)-Trích bài viết trên mạng của truyền thông nhà nước XHCN Việt nam“Quan hệ Tòa Thánh - Việt Nam”.
(2), (3). (4) và (5)……Trích Việt Sử Toàn thư của sử gia Phạm Văn Sơn.
(6)-Trích Việt Nam sử lược của sử gia Trần Trọng Kim.
(*) Trong cuộc mít tinh ăn mừng chiến thắng sau 30-4-1975, từ sân khấu lộ thiên trước dính Độc lập cũ trên đường Thống nhât Saigon, với sự hiện diện của hầu hết các lãnh đạo hàng đầu của đảng CSVN, Tổng bí thư Lê Duẩn lú bấy giờ trong bài phat biểu đã mạnh miệng tuyên bố một cách tự hào đại ý rằng”Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta lần lược đánh bại Phaxit Nhật, Thực dân Pháp và nhất là đế quốc Mỹ hung hãn nhất thời đại…thì đảng ta nhất định sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thanh công chủ nghĩa xã hội trong vòng từ 15 đến 20 năm nữa”. Sự khẳng định này thực tế đã có câu trả lời hiệu quả hay hậu quả ra sao hẳn mọi người đã biết.
Comments
Post a Comment